Giữ Đất

                                                   
Truyện ngắn 
Dương huy Hoàng

Hai Thất chậm chạp bật chiếc quẹt gaz định mồi thêm điếu thuốc nữa đã được gắn trên môi khá lâu nhưng rồi lại thôi. Nãy giờ ông hút quá nhiều. Cơn ho vừa qua như nhắc nhở ông những điều cấm kỵ vì chứng bệnh nhồi máu có thể gây ra đột quỵ bất kỳ lúc nào.         
Ông đưa mắt nhìn miệng hang bị bịt chặt như đang khép lại quá khứ hào hùng bi tráng. Hào khí dường như vẫn còn phảng phất quanh đây. Mỗi viên đá từng thấm máu anh em bỗng như có hồn.
Không dưng sao nghe lòng chộn rộn kỷ niệm khi chạm vào từng phiến đá. Không dưng sao trong gió nghe như có tiếng thì thầm? Không dưng sao từng gương mặt đồng đội thẳm sâu trong ký ức cứ lần lượt hiện ra? Tuy cảnh vật không giống như ngày xưa, nhưng đó đây vẫn hiện diện những vồ đá, vách dựng, sừng sững uy nghi của những năm tháng hào hùng, không mảy may thay đổi trước bao thăng trầm xã hội, như một nhân chứng lịch sử minh chứng cho lời thề của bao người còn khắc sâu hơn đá : Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh.
Lời cô gái lúc nãy vẫn còn làm ông suy tư đến bây giờ. Có lẽ đó cũng chỉ là một cách nói mà người ta vẫn thường gặp trong những cuộc phát biểu chốn đông người, nhưng đây chỉ là một nông dân chân chất thôi mà !...
Hai Thất đứng dựa lưng vào tảng đá lớn, từ từ ngồi bệt xuống, hai chân duỗi thẳng buông thả. Bao giờ ông cũng chọn nơi đây-dưới chân hòn đá này để thư giãn.
Tảng đá lớn kia cũng đã âm thầm nhận diện người chiến sĩ năm xưa đã đến đây năm lần chỉ để ngồi tựa vào mình mà ngẫm ngợi. Cả năm lần thăm lại núi rừng Ô Tà Sóc cũng chỉ leo lên được tới đây rồi lại thôi, không leo lên được đỉnh vồ, nơi mà ngày xưa ông từng nhảy lên nhảy xuống ngày hàng chục lần.
Cũng phải thôi. Đỉnh vồ cheo leo ấy giờ đây đã không còn thích hợp với người cao tuổi như ông.
Cũng có lúc ông cố tìm những hang hốc ngày xưa mà miệng hang giờ đây bị phủ lấp cây cỏ và các thứ dây leo. Nơi ngày xưa đã từng che chở cho ông và hàng chục trung đoàn từ miền Đông lần lượt ghé qua và ở lại , để từ đó chi viện cho khắp các chiến trường Tây Nam Bộ, những cảnh vật thay đổi nhiều quá, núi thì hiểm trở mà ông đã già…
Thì ngồi đây nói chuyện cùng  hai Thép và Néang Lan cũng được chứ sao? Tảng đá hàng trăm tấn này đã làm bạn với hai đứa nó mấy chục năm nay và sẽ còn tiếp tục mãi đến sau này. Anh em đã lần lượt về nơi quy tập, chỉ hai đứa còn ở lại đây giữ gìn kỷ niệm.
Hai đứa ngày thường hay cãi nhau, khi chết lại cùng chung một chỗ.
Cô gái chủ trang trại lúc nãy cũng chỉ hơn Néang Lang ngày ấy chừng chục tuổi, vậy mà giỏi.
Néang Lan ngày xưa vừa tròn 19 tuổi, có làn da ngăm ngăm, mày rậm, mắt to và đôi mi cong vút cùng với mái tóc dài, hơi xoăn, thừa hưởng của mẹ vốn là người Campuchia. Cha người việt tập kết đã hy sinh trên đường Trường Sơn khi cô bé mới 6 tuổi. Sống với mẹ nên tiếng việt phát âm không chuẩn. Mỗi lần nói chuyện với hai Thép cứ kêu bằng… Thẹp, nên nó giận lắm. Một hôm có cuộc họp hai Thép đứng lên phát biểu, nó nói:
-Báo cáo các đồng chí lãnh đạo nghe! Tui tên là Thép mà đồng chí Lan cứ gọi là Thẹp, tui rất không đồng ý. Đề nghị đồng chí Lan không được gọi như vậy nữa, nếu không…Nếu không…
Nó lúng túng rồi làm thinh.
Có tiếng cười khúc khích phía bên dưới.
Rồi Néang Lan phát biểu bằng giọng mộc mạc của người Khơme chưa rành tiếng Việt nghe nặng trịch từng tiếng một:
-Dớ-bào-cạo-các-ạnh. Tui đậu có kêu ạnh bằng ạnh Thẹp mà tui kêu là ạnh hai Thẹp. Vậy mà ạnh nói tui kêu là  Thẹp.
Nói tới nói lui Thép vẫn cứ là Thẹp làm tất cả cười sùng sục muốn lộn ruột.
Tan họp, có đứa rỉ tai Hai Thất:
-Hay mình  gọi nó là hai Thẹp luôn đi!
Rồi nó cười lên hưng hức.
Tiểu đội trưởng Hai Thất giả bộ trừng mắt. Thằng quỷ ấy le lưỡi chuồn mất
0o0
Cả núi rừng rung chuyển ầm ĩ. Đá bay, cây gãy, khói lửa trùng trùng. Những tiếng nổ kinh niên đã dập thẳng vào lồng ngực gây tức thở ngột ngạt. B.52 lại trải thảm căn cứ Ô Tà Sóc Tiểu đội cận vệ của Hai Thất đang trên đường vận chuyển thực phẩm và thuốc men gần đến cứ thì bị bom. Tội nghiệp Néang Lan còn kẹt lại ở đây. Dường như địch đã đánh hơi được cơ quan đầu não của ta nên chiến dịch tấn công núi Dài quy mô ngày càng lớn.
Tỉnh uỷ cũng đã có kế hoạch di dời đi nơi khác. Trước mắt là ngăn chặn những cuộc tấn công của bộ binh địch
Kẽ nứt dưới chân tảng đá lớn như một công sự thiên nhiên vừa đủ chỗ một người trú ẩn, đó là nơi an toàn nhất, tiểu đội dành hẳn cho Lan; còn tất cả đều tản ra tìm nơi ẩn nấp đâu đó để vừa có thể quan sát phía dưới, vừa có thể tránh bom.
Hai Thất thỉnh thoảng đưa mắt nhìn về nơi Lan ẩn náu, yên tâm khi nhìn thấy cô vẫn bình tĩnh không hốt hoảng. Những trận bom pháo hằng ngày như cơm bữa đã làm mọi người chai lỳ, thế nhưng lần này trong lòng Hai Thất vẫn thấy không yên. Một nỗi lo sợ mơ hồ làm anh rướn người qua khe núi nơi  Lan trú ẩn. Với Hai Thất chiến tranh không dành cho phụ nữ.
  Lan là mối liên lạc kết nối Tỉnh uỷ với quần chúng địa phương, hoạt động bán công khai trong lòng địch. Là người cung cấp tin tức và lương thực cho cơ quan. Hơn thế nữa còn là…Nàng thơ cho những người mơ mộng như Hai Thất. Ở những nơi như vầy, người phụ nữ nào cũng có thể trở thành giai nhân. Chỉ cần có chút nhan sắc trung bình cũng đủ làm giấc ngủ của bao thằng con trai coi thường sinh tử trở nên chập chờn lãng mạn. Tất cả chỉ dừng lại ở đó –trong sự tưởng tượng để âm ỉ thành nỗi khát khao khôn nguôi.
Trận bom kéo dài chỉ độ hơn 15 phút mà tưởng chừng lâu thật lâu. Núi Dài chuyển động rùng rùng  như trong cơn động đất. Những tiếng nổ xa gần át đi tiếng kêu thét của Néang Lan . Chỉ khi Hai Thất nhận ra Néang Lan đang quằn quại trên đôi tay của hai Thép thì không còn kịp nữa. Thép đã kịp thời bỏ chỗ nấp  khi phát hiện cô ấy bị thương, kịp thời nhào xuống xốc cô ấy dậy, để rồi…không kịp với trái đạn pháo rơi trúng vào ngay nơi ấy.
Ngớt bom.
Một cảnh hoang tàn  chưa từng thấy. Cả vạt rừng xơ xác ngổn ngang. Cây tùng cao lớn có đến hàng trăm năm tuổi cũng bị gãy gập. Những đám cháy loang lỗ đó đây khắp vạt đồi tạo thành bức tranh lam nham thê thảm.
Nơi Néang Lan ẩn giờ thay bằng tảng đá lớn vừa sụp xuống. Hai đứa hy sinh trước khi khối đá đồ sộ kia  nằm vào chỗ ấy.
Không tìm được gì ngoài những mảnh vụn dán trên vách đá, xương thịt hai người đã hoà lẫn vào nhau, tan biến. Trận chống càn ngay sau đó, cả tiểu đội đã chiến đấu như thí mạng với kẻ thù. Chỉ  khi có lệnh rút lui truyền xuống từ trung đội chi viện, anh em mới tháo lui khi đã bắn hết đạn.
0o0
Im ắng quá, thay đổi nhiều quá! Rừng cây hoang dại ngày xưa đã được thay thế bằng những cây ăn trái. Gốc cây hốc đá đều đã có chủ. Núi rừng Ô Tà Sóc không còn vẻ thẳm sâu, u tịch. Rừng thiêng đã mất đi những thân đại thụ, không còn nghe tiếng chim kêu, vượn hú, tiếng đàn khỉ chí choé cũng không. Những tiếng hoang dã đồng vọng của ngày xưa ấy đâu rồi? Mùi lá cây mục phảng phất ngai ngái làm ông Thất nao long.
Im lặng quá! Ừ, thì chính ông muốn tìm nơi yên tĩnh để nghĩ ngợi kia mà! Chính ông đã âm thầm tách đoàn người tham quan Ô Tà Sóc, lặng lẽ đến nơi này một mình để suy ngẫm câu nói của người phụ nữ kia.
Người phụ nữ chưa đến ba mươi tuổi đã làm chủ hàng chục hecta vườn  cây ăn trái và bạt ngàn những bụi tầm vông, mỗi năm thu nhập hàng trăm triệu đồng. Hai Thất nhớ lại lời đối thoại của một người trong đoàn  vốn là phóng viên phỏng vấn cô ta:
-Chị còn trẻ làm được nhiều như vậy, chị sẽ tiếp tục đầu tư vào việc gì?
-Tôi sẽ tiếp tục mua đất ở đây!
-Chị mua nhiều đất như vậy để làm gì trong khi nhà chị chỉ có hai ba người?
-Mình không mua, nước ngoài họ vô mua hết!

                                                                                                                      
                                                                                                                         03/2003

http://www.vuontaodan.net/forums/tt.aspx?forumid=20

Tín


                                                                                          

Truyện ngắn
Dương huy hoàng.


      Đã hơn một giờ rồi mà ông già vẫn chưa thấy trở ra.Tiếng bìm bịp kêu nước lớn không còn làm tôi thích thú như  lúc nảy. Lạy trời cho đừng có chuyện gì xảy ra, lạy trời ông ấy không phải là Việt cộng. Nếu ông ta mà là Việt cộng thì…Tôi không dám nghĩ tiếp. Gần hai mươi tuổi rồi mà còn nhẹ dạ cả tin như con nít, rủi có bề gì tù là cái chắc. Ôi,có lý nào…
 Tôi lại cố hình dung ra ông già ấy: thân hình vừa phải, tuổi độ năm mươi với khuôn mặt phúc hậu, đặc biệt là đôi mắt lúc nào cũng như cười, nhìn người ta như thấu tim đen, tiếng nói trầm, khi nói nhỏ vẫn nghe ồ ề trong lồng ngực, điệu bộ nhanh nhẩu bước xuống xe như  vừa đi vừa chạy, nôn nao gặp lại người thân. Từ đây băng qua đám ruộng dọc theo bờ mẫu đến rặng trâm bầu ấy ước chừng hơn nữa cây số, Sao họ lại chọn ở nơi đồng không mông quạnh như thế này? Lại là vùng khét tiếng Việt cộng. Nơi đây thường xảy ra những cuộc đụng độ giữa lính càn và du kích bên kia. Quân đội Việt Nam Cộng hòa đã từng bắt được những thanh niên trốn quân dịch và đôi khi có cà Việt cộng nằm vùng. Địa hình này vốn phức tạp, đa phần là rừng tràm xen lẫn với trâm bầu, có vài ba chục mẩu đất do dân địa phương khai hoang từ đời trước, chỉ đến khi mùa lũ rút, cũng là mùa thu hoạch mới thấy xuất hiện vài chục người vào cắt lúa, hầu hết là đàn bà, ông lão, còn thanh niên trai tráng không dám vào đây vì sợ bị bắt lính. Ngay con đường mà tôi đang đậu xe đây cũng thỉnh thoảng bị Việt cộng gài mìn. Sâu trong đồng bưng, nơi lúc nảy ông già đi vào là vùng tự do oanh kích. Từ đây theo đường chim bay chỉ cách sài Gòn vài chục cây số, nên đường dù xấu và không an toàn vẫn có người đi vì là con đường nhanh nhất để đến hòn ngọc viễn đông.
Nhìn cảnh hoang vắng lúc này mới biết cái dại dột của mình là không tha thứ được. Chẳng trách có lần thằng bạn thân bảo tôi: “Toa” đa cảm nên dễ bị lợi dụng, không hợp với chất lính và nhất là công việc của “Toa” nếu bị tình cảm chi phối thì khó mà thăng tiến được. Tôi đã nghe và đã quên phứt lời nó nói. Có biết bao lời khuyên trong cuộc đời này, lời nào đúng, lời nào sai chỉ có thời gian mới khẳng định. Lạy Trời xin đừng đúng trong trường hợp này. Không biết giờ này ban chỉ huy chi khu có biết việc tôi đưa ông  già “đi chợ” hay chưa? Sao lão còn chưa chịu ra ?, không lẽ…Tôi rùng mình không dám nghĩ tiếp.
Chuyện bắt đầu từ ba hôm trước, chi khu tiếp nhận hai người khách từ phân chi khu chuyển đến do trung đội địa phương quân đi càn bắt được. Đó là một ông già và một thanh niên. Ngay trưa đó,gã trai được đưa về tỉnh, tống vào quân trường gia nhập quân đội, còn ông già thì để lại điều tra xem tại sao có mặt ở vùng cấm. Ông già bị nhốt một đêm. Sáng bọn lính đem ông còng dưới gốc cây bã đậu nơi có đóng sẳn trụ sắt. Tôi cũng không chú ý đến, vì người già bị bắt vào đây là chuyện thường. Có nhiều lý do để bắt họ. Có khi chỉ để cảnh cáo không được vào vùng mất an ninh, nhằm để bảo vệ họ cũng có, ngăn chặn sự tiếp tay cho Việt cộng cũng có. Vài ba ngày là tha khi có người nhà hoặc người quen đến bảo lãnh. Đó cũng là dịp để anh em được chút quà cáp do người nhà họ đến biếu…Ông già được báo cáo là tình nghi  nuôi dấu cán bộ Việt cộng, bởi khi lính phát hiện ông đang trốn trong lùm cây, xét trong người thấy lĩnh kĩnh thuốc men, bông băng đựng trong một túi nhỏ, trong áo còn có một tờ giấy nhỏ ghi nước đi của cờ tướng. Có thể đây là mật mã. Điều quan trọng là bọn lính còn phát hiện cách đó vài chục thước còn có hầm bí mật.
Một buổi chiều định mệnh.
Như thường lệ mỗi chiều chúng tôi cùng nhau đánh bóng chuyền trong sân đồn. Rủi thay,hôm ấy vì đập hụt trái bóng, mất đà tôi bị té. Cánh tay chống đở bị trật đau đến tê dại. Tôi ôm cánh tay đau ngồi xề dưới gốc cây nơi lão ngồi xuýt xoa. Lão nhìn tay tôi  rồi nói:
-         Nếu thiếu úy không nghi ngại “qua “ có thể làm cho nó hết đau.
Ma xui quĩ khiến như thế nào mà tôi lại đưa tay cho lão xem, thay vì gấp rút đi lên chợ cho thầy thuốc chữa trị.
Khi được mở còng, lão cầm cánh tay tôi ngắm nghía, rồi bất ngờ bằng một động tác mạnh bạo, dứt khoát, lão giật mạnh. Một tiếng “rụp” gọn khô, tôi đau thót người hét lên. Ông già buông tay cười lớn:
-         - Xong rồi, chuyện nhỏ mà !
Tôi nhìn lại tay mình, dường như bớt đau thật, làm vài động tác, mọi chuyện có vẻ ổn. Lúc này tôi mới nhìn kỹ ông, không có vẻ gì là con nhà võ. Thông thường những người chuyên trị về gân cốt ít nhiều đều có võ nghệ. Tôi hỏi lão làm nghề này được bao lâu mà mát tay vậy? Lão cười:
-         Nghề chính của tui là bắt rắn và trị rắn cắn, chữa trật gân trật xương là chuyện phụ.
-         Rắn nào cắn khó trị nhất?
-         Rắn nào cũng khó mà cũng dễ, quan trọng nhất là phải chữa trị kịp thời, xác định đúng loại rắn thì mới mong có hiệu quã ngay. Như hôm nọ có người đi làm cỏ bị rắn mái gầm cắn, cũng may chị ta kịp thời cuốc cho nó một cuốc đứt làm hai. Người đi làm cùng chị vội vã đến cho tui hay, đến nơi thì chị ta đã ngất xỉu, bên cạnh đó là khúc sau của con rắn để lại, nhờ vậy tui cho chị ta uống đúng thuốc đặc trị, hiệu quả tức thời.
-          Rủi bị cắn mà không biết rắn gì thì sao?
-         Thì phải dùng vài loại thuốc phối hợp bao vây. Hiệu quả tuy chậm hơn  nhưng cần nhất là không được trể.
Tôi cảm thấy hứng thú, xoay qua ngồi cạnh lão, móc thuốc lá ra mời. Ráng chiều ửng đỏ sau cánh đồng trải rộng. Buổi chiều thật đẹp. Bao giờ cũng vậy, cảnh vật chiều tà luôn làm tôi xao động,
Tối hôm đó tôi mua cho lão một gói thuốc và cho mượn tấm poncho để lão đắp như một cách cảm ơn lão đã chữa cánh tay cho tôi.
Ngày thứ ba lão bị tạm giữ  cũng là ngày chủ nhật . Sáng  bọn lính dắt lão ra còng dưới gốc cây  chỗ lão ngồi hôm qua chờ người nhà đến nói  “ Phải quấy” . mạnh ai nấy đi,  thằng nào  trực thì ở lại doanh trại , trong số ở lại có tôi. Tôi hỏi lão có biết  đánh cờ không mà trong người có bài giải thế cờ khi bị bắt. Lão gật đầu, thế là  tôi mang bàn cờ ra ngồi với lão. Thật ngạc nhiên không ngờ lão đánh hay đến vậy. Cả quận này, người đánh  cờ thắng tôi  chỉ vài người. Tôi chắc như vậy vì quê tôi mỗi năm vào dịp tết  thường có những cuộc thi  đấu cờ, tổ chức ở chợ quận .  sau nhiều vòng đấu loại , những người còn lại cuối cùng  bao giờ cũng gặp nhau . Toàn những người quen  của những  năm  trước hội ngộ , rất ít khi có thêm người mới, nếu có thì là người ở nơi khác đến . Đó là mẫu số chung  cho tất cả những gì mang tính chuyên nghiệp. tôi không  phải là tay cờ hạng nhất vùng này, nhưng muốn thắng tôi cũng không phải dễ . Thế mà lão   đã thắng tôi ba ván liên tiếp. Toàn những ván cờ khiến tôi khâm phục khẩu phục. Càng đánh tôi càng nhận thấy mình kém xa lão. Dường như lão đã  thấu hiểu hết mọi suy tính của tôi  ít ra từ bảy tám nước trước khi đi , hoặc giả tôi  đã bị lão dẫn dắt vào thế cờ mà lão sử dụng thuần thục mọi đường đi nước bước, để đến kết cục mà lão đã biết trước. Đấu đến ván thứ năm bằng sự cố gắng hết mình , tôi mới hòa được. Lão xin nghỉ vì mệt. Tôi  cố nài lão đánh thêm bàn nữa , ít khi có dịp gặp gỡ một tay cờ ngoại hạng , cơ hội hiếm có …  Thế nhưng lão cười rồi khoát thay bảo thôi.  Tôi sai một đứa vào trong lấy vài hộp thịt heo ba lát , mua thêm mười chai lade con cọp, tôi muốn  cùng lão nhậu lai rai. Không hiểu sao  tôi thấy mình với lão thật gần gũi . Bia cườm cườm lão thong thả nói, mắt không nhìn vào tôi.
Đánh  cờ là một thú vui tao nhã từ đời  xưa còn truyền lại. Nhưng ngày nay mọi thú vui đều mang tính  đỏ đen . phàm việc gì  có hơn thua thì có  đặt cược . Người đánh cờ  rất dễ để lộ bản chất  của mình . Quân tử đánh cờ trầm tĩnh , không lấy chuyện hơn thua làm trọng . Thắng bại mặt không đổi sắc , chín chắn trong nước đi, nhằm nước thua cũng không hối hận, chỉ lấy đó làm kinh nghiệm . Kẻ tiểu nhân khi chơi cờ thắng thì hênh hoang , thua thì giận dỗi , dễ phát ngôn lời lẽ không hay, đi rồi hồi lại, nói năng lật lọng, xem bàn cờ là nơi biểu lộ trí tuệ tài năng. Thực ra tài năng ý chí không  phải  ở đây mà ở nhiều lĩnh vực khác , trong đó đối nhân xử thế là hàng đầu. Không vì trò  chơi mà  có những lời lẽ  xúc phạm nhau. Nói  với chú em là qua  cũng tự nói  với chính mình vậy!
          Thực ra những gì lão nói, cuộc chơi nào cũng gặp. Như đột nhiên bắt gặp hình ảnh của mình trong  gương , giống như bị bắt quả tang. Tôi  hội đủ những tật xấu mà lão vừa nói đến . Dường như đây không phải là một ông già nhà quê. Tôi hỏi sang chuyện khác :
-         Tại sao người nhà của chú không ai đến bảo lãnh.
Mắt nhìn về hướng chân trời lão có vẻ suy tư :
-         Có thể họ chưa hay biết .
-         Báo cho họ bằng cách nào ?
Tôi có ý định thông báo đến người thân lão giúp đỡ lão.
-         Gia đình tôi ở dưới U Minh, tôi lên đây cùng đứa cháu gái, chúng nó đi làm thuê, chống nó là phế binh, tụi nó vừa làm mướn , vừa nuôi vịt trong đồng, nhà là cái trại của chủ, luôn bận rộn cùng lũ vịt, mấy ngày nay không thấy tôi về chắc tụi nó lo…
-         Hay là …. Ngày  mai tôi  chở ông  đến nơi ấy  để ảnh chị biết mà làm giấy bảo lãnh .
Ông già nhìn tôi  rụt rè :
-         Thiếu úy ….. Nói thiệt?
Tôi phì cười :
-         Chớ ông tưởng tôi nói chơi sao ? Miễn ông đừng trốn . Nếu ông trốn coi như tôi nhìn lầm người , cái mạng của tôi sẽ đi thay ông. \
Lão nói đanh thép.
-         Làm gì mà phải trốn ?
Không hiểu sao  tôi thấy tin tưởng con người này .
5 giờ  sáng tôi lấy xe jeep  đi ngót mười mấy cây số  con đường lỗ chỗ ổ gà này để  đưa  lão đến  đây rồi chờ đợi mỏi mòn hơn một giờ đồng hồ mà chưa thấy lão trở ra. Hơn lúc nào hết tôi thấy  mình đang làm chuyện mạo hiểm cho tiền đồ yên ổn của mình. Ôi, chỉ  vì  chút hàm ơn và một  thoáng tri âm…  Có lẽ lần này lại làm phiền đến  trung tá trung đoàn trưởng Vương Ngọc Long – Anh  Họ tôi .
          Công việc tôi đang làm trong đơn vị là do anh họ tôi bố trí. Học xong khóa sĩ quan Thủ Đức , tôi được bốc ngay về đây làm việc tàn tàn. Từ lúc vào quân ngũ đến giờ, chưa phải đánh trận nào. Cha mẹ tôi sinh ra hai thằng con trai. Tôi là em. Còn nhớ năm tôi lên bảy , cha tôi  nhận được tin buồn . Bác tôi cùng vợ con trên đường về dự đám giỗ ông tôi , họ quá giang xe GMC  thì bị trúng mìn của Việt cộng , bỏ lại người con lớn đang học nội trú trên Buôn Mê Thuột vì  đang học không về được  nên sống sót. Ba tôi ra ngoài ấy chôn cất anh chị xong, rước đứa cháu mồ côi vào ở với gia đình .Lúc đầu, nỗi đau quá lớn  làm anh ấy  thờ thẫn như người mất hồn. Thời gian rồi cũng nguôi ngoai . Anh lao vào việc học , học như điên  để tìm quên. Cha tôi là thầy giáo dạy tiểu học , mong mỏi con mình ham học như anh , thế nhưng ông ngày càng thất vọng khi càng  lớn tôi và anh ruột của tôi chỉ mê chơi. Tôi gặp cờ tướng thì đánh đến quên ăn, còn anh Thông – anh ruột – lại thích ca hát. Ở đâu nổi  đình đám  thì y như rằng hai Thông có mặt. Cha tôi buồn rầu , có lẽ  vì vậy anh Long được ông thương  hơn con đẻ. Anh tôi nhiều lần ganh tị,  có những lời lẽ không hay với anh Long. Có lúc xúc phạm  đến phũ phàng. Anh họ  tôi  vẫn âm thầm  chịu  đựng. Khi buồn, anh ấy  thường ra bờ  sông vắng  vẻ ngồi khóc  một mình .Những lúc ấy, tôi hay ngồi cạnh anh.
          Đậu tú tài loại ưu , anh họ tôi chọn trường võ bị Đà Lạt
          Đời càng khổ  càng có nhiều người liều  mạng , nhất là trong thời buổi  chiến tranh . Lẽ mất  còn diễn ra trong chớp mắt thì  chuyện tử sinh cũng lắm kẻ coi thường .  những người lính từ mặt trận trở  về  mang theo nỗi sầu tuyệt vọng  thường tìm đến rượu và gái,  chớ có dây vào họ làm gì , rất có thể trong bàn nhậu kia,  chỉ vì đôi lời cãi cọ  ai đó có thể rút lựu đạn  cho nổ tung cả bàn. Những chuyện đánh lộn giữa lính  binh chủng này  với  lính binh chủng khác xảy ra như cơm bữa. Đôi khi lôi kéo cả tiểu đoàn  với đủ loại vũ khí . Người  dân sống ở hậu phương cứ nơm nớp như là ngồi tên lửa, lớp sợ chiến tranh, lớp sợ  lính quậy .
          Anh họ tôi vào trường Đà Lạt  thì anh Thông cũng bỏ nhà đi đâu không rõ, năm  sau bỗng trở về  với bộ đồ  biệt động rằn ri cùng với một người bạn. Thì ra anh bị bắt quân dịch khi đang đi bụi  theo một đoàn hát. Gặp cha tôi, anh khóc. Những  giọt nước mắt  đàn ông nhìn lâu  không chịu nổi. Cha tôi cố gượng  mà mắt vẫn rấn rấn. gần đến ngày hết phép anh trở nên lầm lì ít nói. Một hôm anh cùng người  bạn nhậu  say  rồi làm chuyện  thấy ớn…
          Có lẽ đã chuẩn bị trước nên khi say  anh để nguyên quân phục trên người kê chân lên giữa hai thanh gỗ lớn, bạn của anh dùng chiếc chày  vồ to  ( sau khi lót mền lên ống quyển cho êm )  ra sức quật thật lực . Ống  chân gãy  gập mà không chảy máu . Xong việc người bạn đỡ anh ra xe honda  chở ra phố kiếm một chiếc xe du lịch chạy cùng chiều lừa thế bá nhẹ vào, thế là hai người lăn kềnh ra ăn vạ . Tôi nghiệp chủ xe là một thương gia , không biết mô tê gì, ngỡ  mình vừa gây ra tai nạn tày trời khiến người khác  thành  phế nhân, thành khẩn  nhận lỗi. Anh  Thông được chạy chữa và không biết bằng cách nào  mà chính thương gia nọ  chạy chọt cho anh được giải ngũ. Nếu bị phát hiện anh tôi sẽ bị ra tòa án binh  vì tội hủy hoại thân thể. Cái liều của anh chỉ có cha con tôi biết, liều như vậy cũng có lợi.
 Còn anh họ tôi liều  theo kiểu khác.
Nuôi hận thù cả nhà bị chết, ra trường anh ấy tự nguyện đi lên mặt trận  nóng bỏng  để được đối diện với kẻ thù  không đội trời chung. Trung úy, đại úy , rồi tá   với nhiều chiến tích  công  không mệt mỏi. Nếu lần ấy một mảnh đạn pháo không phang trúng  vào đùi  thì không biết  sẽ còn bao nhiêu  người cộng sản  chết dưới tay của Trung tá Vương Ngọc Long.
          Trị xong vết thương anh được điều về làm  tỉnh trưởng tỉnh K sau khi được thăng cấp. Có lần  đại tá Long đáp  trực thăng  xuống  chi khu  chỉ để  “ Thăm thằng  em  xem nó sống ra sao”.. Vô hình  chung tôi  trở thành nhân vật được người trong Chi khu  kính nể nhờ uy danh của anh họ. Mọi lỗi lầm của tôi nếu không nghiêm trọng đều được  xí xóa.
 Còn lần này… tôi nhìn về hướng ấy một lần nữa trước khi  quyết định  có nên vào  trong  ấy kiếm ông lão hay không. Sẽ là vô ích nếu người ta cố tình trốn ,” tri nhân tri diện bất tri tâm”... đây  sẽ  là bài học lớn cho tôi đến suốt cuộc đời, trực giác nhìn người của tôi  đã không còn đáng tin nữa, thật chán nản… Ồ!  Hình như lão trở ra thì phải . Đúng rồi !  chính lão . Bên cạnh lão còn có một phụ nữ khác , chắc là cháu gái mà lão đã kể, trên tay cô ta xách  vật gì đó giống như  gà vịt. Tôi  thở  phào nhẹ nhỏm , lão ta đã giữ đúng lời hứa , cuộc đời này chưa thật tệ như tôi nghĩ . Nỗi mừng vui khiến tôi bắc hai tay làm loa gọi  lớn về phía ấy, rồi vẫy vẫy tay như  mừng người than đã lâu không gặp.
Chờ họ đến gần tôi trách :
-         Sao lâu  vậy bố già
Lão cười :
-         Chú em  thông cảm giùm  qua, phải sắp xếp chuyện nhà  làm chú em chờ đợi.
-         Thôi được rồi, miễn là ông đừng giết tôi bằng cách đi luôn là tôi mừng rồi.
Tôi quay sang cô gái , còn quá trẻ so với lời kể của ông lão. Không có vẻ rụt rè, cô ta nhìn  tôi cười nói .
-         Em đã nghe cậu em kể về anh , trên đời này tìm được  người tốt như anh thiệt không dễ, em cảm ơn anh !
Nếu không biết trước chắc tôi sẽ nghĩ là cô ta chưa có chồng. Xua tay làm  như không có  chuyện gì quan trọng, tôi căn dặn.
-         Ngày  mai cô đến đồn làm thủ tục bảo lãnh , nhớ mang  theo giấy căn  cước  của  hai người và giấy xác nhận  của ấp hoặc xã, tôi sẽ nói giúp  cho.
-         Dạ , tất cả nhờ anh, nhân thể anh mang gà này về cho anh em trong ấy gọi là chút quà.
Vừa nói cô vừa  đặt hai con gà  vào xe rồi nhìn tôi  cười thân thiện, nụ cười  đẹp tuyệt.
-         Chà , định hối lộ hả người đẹp.?
Mặt người phụ nữ thoáng ửng:
-         Thiếu úy  nói quá , chút này có đáng gì, khi nào rảnh mời thiếu úy đến chỗ em chơi . em sẽ bảo chồng  em kiếm bắt một con rắn  thiệt  lớn để  dành…
Tôi cướp lời :
-         Cắn tôi chứ gì?
Cô ta cười ( lại cười )
-         Đâu dám, để nấu cháo đãi thiếu úy.
-         Vô đó việt cộng bắt tôi đem nấu cháo thì có .
-         Người như anh ai mà nỡ đem nấu cháo.
Cả ba cười lên vui vẻ. Tôi đề máy, nói vói một câu :
- Phải chi cô chưa có chồng , dù có bị Việt Cộng nấu cháo  tôi cũng phải vào nhà cô thưởng thức món rắn hổ ” .
 Chiếc xe chồm lên , tôi còn kịp trông thấy nụ cười thẹn thùng  của cô , nụ cười  chỉ có những cô gái chưa chồng.
          Vừa về đến chi khu , tôi nhận được lệnh vào gặp đại úy Chi khu phó. Giao ông già cho lính, tôi vào ngay phòng chỉ huy. Vừa thấy tôi đại úy nói ngay.
-         Tiểu khu vừa gọi điện cho hay, căn cứ vào tin tình báo cung cấp người của ta  bên trong báo về,  khu vực này vừa bắt được một Bí thư huyện ủy của Cộng Sản,  tả  đúng hình dáng ông này trong lốt một người làm nghề bắt rắn. Có  thể  ngay trong ngày hôm nay , tiểu khu sẽ cho người xuống áp giải ông già này về trên để tụi  chiêu hồi nhận mặt, nếu đúng , chúng ta  đã lập được công.
Tôi bần thần, chuyện ông già làm nghề bắt rắn chỉ có mình tôi biết vậy mà…  Tôi quyết định vào gặp lão  để hỏi ra lẽ.
 Nghe tiếng mở cửa phòng, lão ngước lên, nhìn thấy tôi có vẻ mặt nghiêm trọng, nụ  cười trên môi lão chựng lại , nhìn tôi chờ đợi.
-         Ông là Việt Cộng, lại còn là bí thư huyện ủy nữa, tụi  Phòng Nhì  vừa điện cho chúng tôi biết, tại sao ông gạt tôi?
Dường như ông lão giật  mình, mặt thoáng sững sờ,  yên lặng  một hồi, rồi nói chậm rãi :
-         Tôi  không gạt chú em, chuyện  tôi có là Việt cộng hay không  điều đó không liên quan đến   tình cảm của chúng ta. Thiếu úy chỉ cần biết rằng   tôi là ông già làm nghề bắt rắn quen với nhau qua những bàn cờ,  quý trọng nhau  qua  sự đồng cảm của suy nghĩ.
-          Vậy chú nhìn nhận đúng là Việt Cộng ?
Lão trả lời một câu không ăn nhập vào đâu:
-         Tôi không làm trái lương tâm.
Thú thật, qua mấy ngày  tiếp  xúc tôi  chưa bao giờ nghĩ rằng mình đang giao tiếp với cộng sản, đừng nói là Bí Thư Huyện Ủy, ngay đến  việc  chỉ quan hệ du kích thôi , tôi cũng không dám . Vậy là  chúng tôi  đang ở hai trận tuyến thật  sự không phải là bàn cờ. Nghĩ đến việc không bao giờ  có dịp đánh cờ cùng lão nữa tôi bỗng thấy buồn.
-         Thôi thì thế nào cũng không liên quan đến tôi, có điều khi lên trên ấy ông đừng đá động đến việc tôi đưa ông đi gặp người nhà, điều  đó sẽ làm liên lụy đến tôi. Thú thật tôi không nỡ nhìn ông bị tra tấn, nếu là Việt cộng,  lên đó hãy khai thật  để khỏi bị đòn, còn bây giờ cần gì  cứ nói,  có thể tôi sẽ giúp được ông.
Mắt lão ánh lên cảm động.
-         Nếu được chú giúp một lần nữa  tôi thật biết ơn –ngưng một chút, ông nói tiếp- Nhờ chú cho cháu  tôi hay  tình trạng của tôi như vậy  để tụi nó tự lo liệu.
Tưởng tượng đến cái cảnh phải vào nơi hồi sáng thấy ớn ,định từ chối thì ông nói :
-          Lần này không  phải đi  xa ,  chỉ việc ra chợ quận  tìm đến tiệm thuốc bắc Y   nói với người ở đó  rằng  thầy Tư nhắn  “ Hốt  thang thuốc cũ ”  là được.
Tôi thấy mình đang đi sâu vào lửa, câu nhắn sặc mùi ám hiệu , nếu nhận lời thì rõ ràng tiếp tay Cộng Sản, thế nhưng nhìn lão   thấy thương và tôi nghiệp, thôi cứ giúp lão lần cuối coi như  xong nợ.
 Sau khi hỏi kỹ  tên hiệu  thuốc  tôi nói nhỏ  với  lão :  Nếu có chuyện xảy ra  ông   không được khai tôi đó nghe!
           Lão gật  đầu.
          Kể từ đó, tôi  không  còn gặp lại lão nữa, nhưng hậu quả lão để lại  thì suốt đời tôi không quên.
          Buổi chiều khi về  đơn vị, lính gác cho tôi biết tiểu khu đã  cho người  xuống giải lão lên trên ấy, trước  khi đi  ông vẽ lại  cho tôi lời giải  của bàn cờ  thế mà ông đã nghĩ ra. Đó là chút quà  lưu niệm  ông dành  cho tôi .
           Cũng ngay  tối hôm ấy  có điện khẩn  từ Tiểu khu xuống  cho biết : Chiếc xe Jeep  cùng 5 người lính  áp tải ông  trên đường  về Tiểu khu  đã bị phục kích , 2 chết, 3 bị thương , tên Việt Cộng  nằm vùng  đã được giải thoát. Tôi nghe mà mồ  hôi ướt áo. Hôm sau  Nha An ninh  cho người mời tôi lên  thẩm vấn về mối quan hệ  giữa tôi  và tên Việt cộng  đã trốn thoát (  có người trông thấy  tôi chở lão ra vùng cấm ). Tôi  phải lý giải việc này . Bản tường trình của tôi giấu nhẹm việc liên lạc với tiệm  thuốc , vậy mà  tôi vẫn bị giam chờ ra tòa án binh  vì tội tình nghi  tiếp tay  Việt Cộng.
          Một tháng sau, tôi được thả ra nhờ ông anh họ chạy chọt giùm ,nhưng phải bị kỷ luật đổi đi nơi khác . Việc ấy lại hóa hay, tôi được điều  về làm trợ  lý một  kho tiếp liệu  ở Long Bình , trực  thuộc cục quân nhu nhờ ông anh gởi  gắm .
          Đó là giữa những năm  1971, trước năm mùa hè đỏ lửa ,  dù chiến sự ngày càng  ác liệt  cuộc đời tôi cứ bình thản  cho đến ngày giải phóng . Cha tôi đã mất cách đó vài năm . Anh ruột đi  đâu không rõ, để rồi sau đó tôi nhận được tin anh gia nhập đoàn quân giải phóng  đi tiếp quản thị xã. Thời kỳ này, sinh viên, học sinh  cùng quần chúng tham gia  khá đông, qua thời gian sàng lọc, những người còn lại vẫn tiếp tục  làm việc  trong chính quyền  đoàn thể, người ta gọi đó là cách mạng ba mươi. Anh hai Thông tham gia một thời gian  rồi cũng bị đào thải . Anh họ tôi đã  lên trực thăng  trốn sang Mỹ  trước cách mạng thành  công  mấy  ngày . Còn tôi ở lại  một trại tập  trung   chỉ dành  cho sĩ quan  cấp đại úy trở lên  học lập cải tạo, dù tôi chỉ mang lon thiếu úy. Tôi được xếp vào loại nguy hiểm  do có quan hệ mật thiết  với tên đại tá ác ôn Vương Ngọc Long . Sự đời nghĩ cũng ngộ, vào  đây tôi trờ  thành bạn bè  của nhiều sĩ quan cấp tá ngụy. Sau những buổi lao động trở  về chúng tôi  thường đấm bóp, giác hơi cho nhau. Hóa ra khi ở chung với cấp bậc cao tôi  lại là người nhẹ tội nhất trong trại . Khi mọi người còn phải chịu sự quản lý nghiêm ngặt , tôi gần như chỉ bị giam lỏng  với những công việc mà tất cả trại viên ai  cũng thèm muốn như đi làm cỏ, trồng cây,  đôi khi còn cùng cán bộ đi chợ  để làm công việc bốc vác . Những dịp như vậy  tôi thường mua dùm họ những vật dụng sinh hoạt  cần thiết như bàn chải  đánh răng, trà, kẹo… Đổi lại có vật gì ngon họ cũng mời tôi ăn. Tôi trở thành người bạn của tất cả. Những người này ngày xưa có nằm mơ  tôi cũng không giám nghĩ  có lúc mình  với họ sống bình đẳng như vậy. Người ta nói rằng ai cũng muốn bình đẳng với kẻ… trên mình. Sự phân biệt đẳng cấp cũng là nguyên nhân của mọi tai họa trên  đời. Giờ đây họ thật tội nghiệp, dường  như ai cũng có nỗi lo giống nhau, tâm lý sống được ngày nào hay ngày ấy, làm họ e dè ngay với những người từng là chiến hữu, biết đâu  có kẻ muốn lập công ..  Để khỏi phải suy nghĩ  và cũng để  đốt thời gian một số  trở thành  “ nghệ nhân”  với những vật dụng  tự họ làm ra  như chiếc lược, chiếc kẹp bằng nhôm máy bay hoặc  inox, trên đó khắc tên những người thân, họ làm với tất cả sự chăm chút tỉ mỉ  của lòng kiên nhẫn.
 Thấm thoát tôi vào đây cũng được 4 tháng . Một hôm như thường lệ, tôi  xách chét  cùng với vài người  đi làm cỏ chung quanh trại. Buổi trưa ở đây trời nắng đổ lửa , không  thua cái nắng ở quân trường , ai là lính mà không  quen với cái nắng? Đồng cỏ bạt ngàn dễ chừng có đến hàng trăm cây số bán kính,  có muốn trốn cũng không biết đi đâu được. Nhiều lúc nhìn  đồng cỏ bao la, tôi tự hỏi  đất trời rộng lớn vậy mà con người không thoát được vòng  xoáy của chiến tranh, không tìm được mảnh đất bình yên như lòng mình mong muốn.
Mặt trời  đã chênh choáng về phía  sau lưng, bóng tôi chuồi về phía  trước nặng trĩu. Bên cạnh bóng tôi bỗng có thêm  chiếc bóng nữa từ từ  trùm lên , tôi cứ vờ như không thấy , tay làm cỏ đều đều, đầu nghĩ chắc là một cán bộ nào đó  đến kiểm tra xem tôi làm việc ra sao , có  siêng năng không chứ gì?
-          Vương tài Biển !
“ cái bóng ” đột nhiên gọi tên tôi. Như cái máy, tôi trả lời.

-          Dạ có mặt - Đồng thời đứng lên xoay lại đối diện  với người vừa gọi .
 Ánh sáng ngược khiến tôi  không nhận rõ  khuôn mặt của ai. Người ấy  vỗ mạnh vào vai tôi :
-         A ha, đúng là chú mày rồi. Chà tuy có hơi đen nhưng càng mạnh khỏe chứ sao,  qua tìm chú để cho chú gỡ mấy bàn cờ đây !
Tôi định thần nhìn kỹ , đúng rồi , đúng lão già chết tiệt  đã  làm  tôi  suýt chết đây rồi !  Bộ quần áo bộ đội làm ông trông khác hẳn. Tôi mừng quá hét lên  :
-         Chú  chưa chết ?
-         Ừ, chưa chết.
Lão nắm tay tôi  dắt về phía có bóng mát, vừa đi lão vừa nói
-         Qua tìm chú em đã lâu, cách đây nửa tháng, biết chú mày học tập ở đây , bây giờ  mới gặp mặt được  vì trong nửa tháng đó  ta phải làm một số việc bây giờ mới xong, cũng là chuyện của chú em mày cả thôi.
    Đang đi, ông  bỗng dừng lại : “ Giờ con hãy nói với ta thật lòng nhé”- Đột nhiên lão đổi cách xưng hô, tôi nhìn lão chờ đợi.
-         Trong suốt đời làm lính con có làm điều gì gây nợ máu với ai  không?
Tôi nhìn lão, chầm chậm lắc đầu . Lão vẫn  như  mấy năm trước , tóc bạc nhiều hơn nhưng ánh mắt vẫn trẻ trung như ngày tôi mới gặp lần đầu.  Lão nhìn tôi rồi nói:
-          Ta cũng tin như vậy , một người có tấm lòng nhân hậu như con không thể gây điều ác được. ta cùng một đống chí nữa đã lo xong hồ sơ bảo lãnh con. Đồng chí ấy cũng đi với ta đến đây, chính cô ấy đã đốc thúc ta làm chuyện này  càng sớm càng tốt.
Tôi buột miệng :
-         Ai vậy ?
-         Thì cái con nhỏ  đóng vai cháu ta , chú mày đã từng gặp khi đưa ta về đó. Cô ấy cùng hoạt động chung với ta một tuyến. Còn con gái mà phải đóng vai có chồng cũng dễ bị lộ,  cũng may nó nói nhờ con không để ý, nó nói còn  nợ chú mày một bữa cháo rắn hổ đấy, lần  này về đãi luôn
Tự nhiên tôi cảm thấy vui vui .
-         Cô ấy bây giờ đang ở đâu?
-         Đang nói chuyện với ban lãnh đạo trại về việc của  chú mày.
 Chúng tôi cùng đi về phía văn phòng . Lòng tôi nôn nao rộn rã niềm  cảm khái, tôi sực nhớ đến một điều, khiến tôi ray rứt mấy năm nay  đó là một câu tôi chưa kịp hỏi lão  từ độ chia tay .
-         Tại sao lần đó  đưa về nhà chú không chịu trốn luôn?
Đang đi chầm chậm  ông bỗng  dừng lại nhìn vào mắt tôi :
-         Vì chữ tín !
                                                                                1990

http://www.vuontaodan.net/forums/tt.aspx?forumid=20

BỘI TÍN

                                      
Truyện ngắn
Dương huy hoàng.


Không có chuyến đi Đà lạt, còn lâu tôi mới gặp hắn. Lang thang cả tuần, rả rời đôi chân tìm hứng viết một cái gì đó mà ý tưởng cứ trôi theo mây trời lảng đảng.
Cũng may (hay xui)- sau một tuần lang thang tôi tình cờ gặp hắn.
Chính hắn chứ không ai khác. Dù hắn thay đổi nhiều, tôi vẫn nhận ra bộ mặc bóng như dái heo của hắn.
Hắn đã gieo vào lòng tôi nỗi ân hận âm ỉ mấy chục năm nay không lúc nào nguôi ngoai.
Trời ở đây lạnh mà trán hắn vẫn đẩm mồ hôi vì bưng bê những chiếc lò than rực lửa. Cầu mong hắn đừng nhận ra tôi.

Hơn mười năm không gặp, nhiều người cũ có thể không nhận ra tôi bởi ngoại hình đã nhiều thay đổi. Ở vào tuổi “Nhi bất hoặc” con người ta có khuynh hướng phì nộn. Tôi cũng vậy, không còn gầy gò đen đúa như xưa. Mười năm, trọng lượng tăng gần hai chục ký, cộng thêm bộ ria mép cố tình để dài dù chỉ mọc thưa thớt làm cho mặt tôi có phần khác lạ nên hắn không nhận ra là phải. Thi thoảng có người nhận ra tôi đều bật lên câu :“Phát tướng!” Chắc họ ngỡ rằng đi kèm với dáng vẻ mập mạp trắng trẻo ấy tôi hẳn đã phát tài phát lộc
Họ lầm! Tôi nghèo
Thậm chí, tôi còn nghèo hơn cả lúc làm thợ sữa chữa khoá trước hiên đối diện nhà hắn, có nghĩa là vận mệnh đen đủi hơn xưa. Mười năm trước tôi còn có vợ con, nhà cửa, sự tự do cùng với lòng tự tin. Còn hiện tại, tôi không còn có ai là người thân bên cạnh, không nhà cửa, không bạn bè và nhiều lúc…không muốn sống!
Tôi làm nhân viên giặt ủi trong một nhà hàng khách sạn. Nghề của tôi là giặt từng cái nón đến chiếc quần silip. Từ chiếc áo thụng của thầy tu cho đền chiếc váy ngắn củn cỡn của ả gái điếm. Từ chiếc khăn trải bàn dính đầy nước mắm, nước tương và đôi khi đầy những thứ tanh tưởi do những kẻ say sưa tràn họng ói ra, cho đến những tấm drap trải giường lấm lem vết máu hay những đốm “keo” khô mang hình những đám mây loang lổ. Nghĩa là phải tẩy sạch tất cả cặn bã của sự hoan lạc mà người khác để lại
Do công việc thường tiếp xúc với nước và xà bong, lại luôn ở trong mát cùng với sự vận động thường xuyên, lại còn “hưởng xái”  cơm thừa canh cặn trong nhà hàng mà thực khách ăn không hết để lại nên “phát tướng” là phải
Những lúc buồn chán tôi tập tành viết lách, may mắn được đăng vài bài báo ở văn nghệ tỉnh, thành thử mới có được chuyến đi Đà Lạt hôm nay do Hội văn nghệ mời với tư cách hội viên.
Anh bạn nhà thơ thì thầm vào tai tôi bài thơ mới vừa viết xong cùng với vài câu thơ xuất hiện bất chợt khi đang ngồi nhậu. Tôi nghe anh đọc thơ trong vô vàn âm thanh ồn ào của quán. Tiếng mhạc đan xen với tiếng chửi thề, có ai đó ở bàn bên phía sau lưng  đang lấy chủ nghĩa duy vật để chứng minh cho một hiện tượng gì đó mà cả thế giới người ta còn mù mịt. Tiếng chó sủa,  khói bay, hơi rượu, mùi mỡ cháy hoà quyện với giọng thơ trầm bổng rì rào. Chỉ với hơn nửa giờ, thế gian này đã nhận thêm được một bài thơ mới ngay ở tại bàn rượu, đối diện món ngầu pín. A ha! Hoan hô thịt cầy, hoan hô ngầu pín….rượu đã làm cho tứ thơ thăng hoa. Hoan hô những nhà thơ của nền công nghiệp phát triển…Thơ ca muôn năm.
Anh bạn đột nhiên huýt vào hông tôi:
-Sao nghe được không?
Tôi giật mình ngơ ngác , rồi hiểu ra, rồi tươi lên, trầm ngâm, trợn lên, rồi lim dim như đang tận hưởng, chiêm ngưỡng một kiệt tác:
-À,À..được đấy chứ! Lời lẽ súc tích, ý tứ tiềm ẩn,cao siêu -Tôi trịnh trọng- nội cái câu” Phật, Chúa, A la cùng nhìn về… ba hướng” mới tuyệt làm sao! Mình không ngờ chỉ với hơn xị rượu bạn đã đẻ ra cái tứ thơ thật độc chiêu. Riêng cái câu:”Họ giết nhau vì muốn làm đời trong sạch” quá ư là chí phải. Mình đã đọc đâu đó một câu đại loại: ”thế giới luôn loạn lạc vì có quá nhiều người muốn làm cho nó trở nên tốt đẹp… theo cách của mình”, còn câu này  nữa…câu gì mới nghe..chậc.. À! Phải rồi, chính là câu đó…quả là bài thơ hết ý. Ôi, thiên tài!
Tôi bổng trở nên sinh động hơn. Rượu ngon, thịt béo, thơ văn, phút chốc làm tôi tạm quên cái thằng người đang đứng nướng trong kia
Ngà ngà say, rời làng nướng hai thằng ngất ngưởng lội bộ về nhà khách trong cái gai lạnh sương mù. Anh bạn có vẻ thích chí với bài thơ vừa làm được. Chắc tối nay anh ta khó ngủ vì vui sướng. Còn tôi đêm nay khó mong tìm được giấc ngủ bình yên
Qủa thật, tôi đã làm đủ cách mà giấc ngủ vẫn không đến. Những hình ảnh muốn quên cứ chập chờn. Gương mặt ông Tửng ần hiện cam chịu, buồn bã khi xa khi gẩn trước mắt tôi. Ông Tửng ơi, tôi đã gặp nó rồi, nhưng tôi không biết làm gì để chuộc lỗi mình. Trời ơi, giá như tôi có thể làm lại từ đầu thì hay biết mấy.Ông Tửng ơi xin hãy tha thứ cho tôi.
Tôi ngồi bật dậy. Phải rồi, viết. Tôi phải viết, vì chỉ có viết ra như một lời thú tội mới mong thanh thản được phần nào chăng? Và cũng là để trả nợ áo cơm cho những ngày phởn phơ nơi đây
Tôi ngồi vào bàn nâng viết lên ngang mặt rồi nhắm mắt như một kẻ ngồi thiền, cố hình dung về cuộc đời của ông bạn vong niên quá cố với những gì mà ông đã kể cho tôi nghe.
0o0
Đó là khoảng cuối thập niên bốn mươi, khi tiếng súng còn vang trên các mặt trận ở Trung Quốc. Ngày cậu Tửng rời làng cùng vài người bạn vượt biên sang Lào, vào rừng tìm trầm và cũng là để trốn lính khi vừa được hai mươi mốt tuổi
Tửng sinh ra trong một gia đình thuộc dòng khoa bảng, nhưng đến đời ông nội của cậu thì chỉ còn lại chút danh tiếng của lão thầy đồ kiêm bốc thuốc trong một làng quê hẻo lánh, từ lúc cụ Sơ trót dính dáng đến Thái Bình Thiên Quốc, để rồi trôi dạt tận  góc trời Vân Nam, chọn sơn địa này làm nơi lánh nạn. Trước khi nằm xuống, ông đã kịp để lại cho đời một đứa con nối dòng. Đó chính là ông nội của Tửng
Dạy học và bốc thuốc, với một lòng nhiệt thành, ông nội cậu đã tạo được chút tên tuổi trong cái làng chỉ quen sống bằng nghề nương rẫy. Người ta biết đến ông như một người có công khai hoá vỡ lòng; một ông thầy đầu tiên cho những đứa trẻ đi học còn phải có người nhà đi kèm; một thầy lang nhân ái
Tửng sinh ra trong cái làng quê ấy để rồi trở thành chàng trai nông dân như bao con trai ở đất địa này. Mọi tự hào về danh giá của dòng tộc xa xưa trở nên mờ nhạt. Cho đến đời Tửng không còn lại chút vết tích nào ngoài cái vốn học biết đọc biết viết và Tam cương ngũ thường do thầy đồ - cha -truyền lại
Tửng là con trai duy nhất, giống như ông và cha của mình. Hệ phả nhìn vào cứ thẳng tuồn tuột như ngọn nến, vì ba đời  mỗi cây chỉ được một trái. Cũng chính vì thế cha mẹ đã đi hỏi vợ cho cậu khi mới mười sáu tuồi. Cái tuổi thích chạy long nhong cùng lũ bạn hơn ở nhà, với những hôm đùa giỡn  trên đồi, nơi có cây đa đại thụ mà mỗi khi leo lên đó, Tửng có thể nhìn bao quát cả một vùng. Cha Tửng nói tất cả  nhau và cuống rốn của mọi người được sinh ra trong làng được chôn quanh gốc cây này, để mai sao dù có đi đến nơi đâu cùng nhớ đường mà trở về. Cây đa nghe đồn đã có đến trên dưới năm trăm tuồi. Chôn ở đó như trao gửi Sơn thần gìn giữ những đứa con của làng, bảo vệ chúng tai qua nạn khỏi trước những giông bão cuộc đời
Người độc mồm hay nói: ”Một đời ngự y, ba đời suy” không biết có phải vậy không? Chỉ biết đến đời Tửng nghề thuốc thang cũng chẵng còn ngoài vài ba bài thuốc gia truyền trị cảm mạo nhức đầu sổ mũi cũng không ai cần đến nữa…Còn cậu, nghèo rớt như dân cả cái làng quê này.
Có những chiều nhìn về phía chân trời xa, nơi cánh chim bay ngút mắt, Tửng
bổng thèm được đi đây đó mọi miền. Máu lưu lạc tiềm ẩn bao đời tưởng chừng đã ngủ yên , giờ chảy rần rật trong huyết quản. Trời rộng mà làng lại quá hẹp. Đứng sau cây đa lớn chưa thấy được những gì khuất sau ngọn đồi phía chân mây. Tửng ước mình được như cánh chim.
Tửng lấy vợ. Vợ Tửng là một cô gái cùng tuổi. Dù không đẹp nhưng được cái siêng năng chăm làm, ít nói hiền như cục đất củ khoai. Tuy chữ nghĩa ít ỏi nhưng cũng biết thế nào là tam tùng tứ đức . Trận đại dịch đã cướp đi mạng sống song thân. Tửng chẳng còn ai là người thân thiết trên đời ngoài cô vợ quê mùa lam lũ. Làng quê xơ xác qua cơn dịch bệnh, đã nghèo càng thêm nghèo. Ý tưởng rời khỏi nơi đây càng thêm nung nấu trong lòng.
Tửng chưa thể đi được vì cô vợ có mang
Thằng Đại ra đời. Vợ Tửng tất bật với những lo toan mới. Hằng ngày địu con trên lưng cùng chồng phá thêm đất làm nương. Thằng Đại vừa bước chân chập chững vợ Tửng lại có mang…và thằng Thứ ra đời. Mỗi khi thắp hương trên bàn thờ Cửu Huyền, Tửng thầm hãnh diện, vì ít ra về khoản nối dòng, cậu đã hơn hẳn cha và ông của  mình. Cô vợ trẻ ngày nào giờ  xấu ỉn vì những vất vả nhọc nhằn. Ngực lúc nào cũng căng đầy sữa, chảy xệ trong tư thế sẳn sàng cho con bú bất kỳ lúc nào với chiếc áo cũ phong phanh không  gài nút, đâu còn giữ được dáng vẻ thẹn thùng như lúc mới bước chân về nhà chồng.
Với hai đứa con nhỏ, vợ Tửng chỉ còn quanh quẩn với đám rau cùng gà heo trong nhà, không thề cùng chồng ra nương. Nỗi cơ cực cứ đè nặng lên vai cậu con trai mới lớn. Ước mơ vượt thoát ngày càng thêm mãnh liệt.
Một hôm Tửng bảo vợ:
-Sống nghèo như vầy hoài chán lắm!  Mình hãy ở nhà chăm sóc các con. Tôi cùng mấy người bạn sang Lào xem liệu có khá lên được chăng? Nghe nói bên ấy có người tìm trầm hoặc đãi vàng mà trở nên giàu có, vả lại mạn bắc đang có đánh nhau, ở nhà có ngày tôi sợ bị bắt đi lính. Làm thằng lính tôi không ham.
Tửng ôm thằng Đại lên, hôn vào má nó rồi nói:
-Tôi là người còn lại duy nhất trong dòng họ, may mắn được mình sinh cho hai con nối dõi. Đời chúng ta cơ cực. Tôi có thể  hy sinh tính mạng để mẹ con mình được sống sung sướng, con cái chúng ta được học hành đến nơi đến chốn, ít ra cũng làm rạng rỡ phần nào  để tổ tiên nhà ta khỏi tủi thân khi thấy con cái xa dần chữ nghĩa thành kẻ thất học chân lắm tay bùn. Tôi chỉ còn có mình và hai con là người thân duy nhất trên đời.. Cho dù có đi đến chân trời góc bể hoặc có vào dầu sôi lửa bỏng thì khi bình yên, người đầu tiên tôi nhớ đến là mình và các con. Ngày nào còn bảo tồn được bản thân  ấy là tôi bảo tồn vì mình.
Chị đã khóc không nói được lời nào. Nhìn chồng mà nước mắt lả chả. Chị vốn ít lời, thường ngày chỉ lắng nghe anh nói và phục tùng như một người hầu tận tuỵ. Nhìn chồng ăn  ngon ngủ yên lòng đã cảm thấy vui sướng. Tửng đọc được niềm vui qua ánh mắt và những cử chỉ săn sóc tự nhiên như bản chất sẵn có của người phụ nữ Á đông trong cuộc sống thường nhật
Đêm đó, hai vợ chồng đã sống trọn vẹn cho nhau như ngày đầu hợp cẩn
Ngày ấy ra đi, ông Tửng mang theo niềm hy vọng đổi đời mãnh liệt. Ông cùng mấy người bạn vượt biên sang đất Lào, luồn sâu vào rừng hàng mấy tháng trời, chịu đói khát, muỗi mòng và sốt rét. Tìm được một ít trầm định trở về quê thì cả nhóm bị cướp chặn đường. Họ chống trả quyết liệt. Tửng bị một tên cướp dùng cây đập vào đầu bất tỉnh . Khi tỉnh dậy, không thấy mọi người đâu, ngoài xác chết hai người trong đoàn. Sợ quá, Tửng gắng  gượng  tìm chỗ trốn. Cái chân đau như sắp  gãy khiến Tửng không thể bò nhanh. Lết được hơn hai ngày trời ,Tửng kiệt sức vì đói khát nhưng cũng  gắng gượng tìm được một bẫy thú rừng rồi ngất đi bên cạnh đó.
Tửng được người chủ của cái bẫy mang về lán vào sáng hôm sau khi hơi thở chỉ còn thoi thóp vì đói và sốt rét cùng với thân mình đầy vết máu khô do đàn vắt hút no nê còn để lại vương vãi. Người kia xí xô xí xào vào hai tai mà Tửng không hiểu ông ta muốn nói gì. Nhờ những tô thuốc đen thui đắng nghét mà vài ngày sau cơn sốt rừng cũng dần bị đẩy lùi, hai người cùng cáng Tửng đi về bản của họ. Ở được mười ngày, chân hết đau Tửng từ tạ ra đi.
Đáng lẽ phải ngược trở về quê, Tửng lại tiếp tục đi xuôi vào Nam. Anh không muốn trở về mà không mang theo được gì. Anh tìm đến những nơi có đông người, nhận làm những công việc nặng nhọc để có cái ăn qua ngày, vừa làm kiếm ăn vừa tìm cách xuôi vào Nam. Nơi Tửng đi qua có lúc là làng bản, có khi là đô thị tấp nập ngựa xe
Một hôm, anh nhận ra vài người nói giọng quê mình đang nhếch nhác tụ tập dưới một mái hiên đường phố. Họ mang theo cả nồi niêu soong chảo và trăm thứ hầm bà lằng cho một cuộc di cư. Qua lời họ kể, Tửng biết rằng chiến tranh đã tràn qua làng mình.
-Chết nhiều lắm. Những trái đạn pháo hất tung xác người trên từng lùm cây bụi cỏ. Làng của cậu chắc là không ai chạy thoát. Họ đánh nhau cả tháng trời đến một con chó cũng không còn nguyên vẹn.-Một ông già đã  nói với Tửng như thế.
Anh điếng hồn chạy về hướng đồi hoang nhìn về phương bắc rồi khuỵ xuống, hai tay nắm chặt vào nhau. Tửng vái Thần Thánh, Phật, Trời…Tất cả những đấng thiêng liêng đang ngự ở trên cao, phù hộ cho vợ con anh được tai qua nạn khỏi. Tửng khóc, tự trách mình sao không có mặt bên cạnh vợ con để cùng sẻ chia hoạn nạn.
Liên tiếp mấy ngày sau đó, tin chiến sự bay tới tấp. Toàn những tin Tửng không muốn nghe  hay đúng hơn là không dám nghe. Quê Tửng đàn bà trẻ con chết như rạ. Đàn ông hầu hết đều đã bỏ trốn do sợ bị bắt lính. Tửng thơ thẩn bước theo dòng người chạy loạn, ruột gan như  đứt từng đoạn.
Những ngày sau là một chuỗi dài đầy biến động. Đoàn người được gom về một khu tạm cư  nhưng sau đóTửng lại tìm cách thoát ra. Anh cùng một người bạn mới quen, xuyên rừng qua Campuchia rồi qua luôn Việt Nam, dong ruổi trên các đường phố sinh sống bằng nghề mua bán ve chai lông vịt. Rồi ở luôn tại Long Xuyên.
Cũng như đa số người Hoa cần mẫn trên đất Việt, những năm đầu quảy đôi cần xé, Tửng đi khắp các hang cùng ngõ hẻm. Sau vài năm tích luỹ được số vốn kha khá , Tửng mua một bãi đất trống , che tạm làm nhà kho chứa phế liệu. Thấm thoát hơn mười năm xa quê nhà. Nhiều lúc Tửng cũng có nghĩ đến việc trở về nhưng suy đi tính lại thấy không ổn. Liệu có còn ai sống sót không mà trở về nơi ấy? Vả lại ở Việt Nam đang có chiến tranh, cho dù muốn trở về cũng khó có thể thực hiện. Thôi thì cứ lo kiếm tiền cái đã, khi nào có dịp về sau. Tửng tự an ủi mình như vậy mỗi khi nỗi nhớ quê cồn lên.
Chiến tranh là huỷ diệt cái  này để tạo ra cái khác. Có bao nhiên người thay đổi số phận do chiến tranh? Điều đó khó có thể biết hết được. Chuyện khổ đau tang tóc, sinh ly tử biệt, tán gia bại sản diễn ra từng phút từng giờ ở những nơi chiến tranh đi qua. Thế nhưng cũng có người nhờ chiến tranh mà phát tài phát lộc. Tửng may mắn được nằm trong số ít người đó.
Vựa của anh không mấy chốc đã phát đạt không ngờ bởi phế liệu từ chiến tranh không làm sao kể hết. Tửng phải thuê thêm hàng chục người làm. Anh trực tiếp đứng ra ký những hợp đồng thu gom phế liệu với những vị tai to mặt lớn trong quân đội, mua từ chiếc vỏ đạn đến xác xe tăng, tàu bay. Muốn làm được điều đó, dĩ nhiên anh phải mở rộng những mối quan hệ của mình trong thương trường và trong quân đội. Thêm mười năm sau nữa Tửng đã trở thành đại gia có tiếng trong tỉnh lỵ với cái tên “ Ông Tửng phế liệu.”
Trong số những người làm công cho Tửng có một quả phụ người Việt gốc Hoa nhỏ hơn Tửng hàng chục tuổi, hoàn cảnh thực đáng thương. Chồng cô ta chết trận khi đứa con trai còn ẵm ngửa. Tửng nhận cô vào giúp việc vặt khi biết cô ta không còn ai là người thân thiết trên đời. Điều đặc biệt, cô ta có khuôn mặt hao hao giống vợ Tửng nơi quê nhà. Đó là lý do thầm kín khiến anh nhận cô vào làm. Tửng chạnh nhớ đến thân phận của mình cũng tứ cố vô thân…
 Sau một thời gian, Tửng cưới người ấy làm vợ. Nhiều người ngạc nhiên trước quyết định của anh. Vì với tiền bạc của cải ngần ấy, Tửng có thể cưới năm ba cô vợ trẻ non tơ cùng một lúc. Người ta vui miệng nói nhỏ với nhau:  Đúng là “Tửng”, tự nhiên hốt ổ mang về nhà “phụng dưỡng”. Thời chiến , trai thiếu gái thừa ở đâu mà không có cảnh mẹ goá con côi…
Tửng yêu quý con riêng của vợ như con ruột của mình, bởi ông không còn khả năng sinh con nữa, không biết phải do di chứng của bệnh sốt rét rừng hai mươi năm trước hay vì do những chén thuốc đắng nghét mà người dân tộc thiểu số Lào đã cho ông uống ngày ấy? Chỉ nghe các bác sĩ bảo rằng ông không thể có con dù đã cố gắng điều trị đủ cách.
Ăn ở với nhau được năm năm, cô vợ bỗng nhiên  lăn ra mà chết. Tửng buồn bã thề ở vậy suốt đời không lấy ai nữa . Anh ra sức chăm lo cho thằng bé với hy vọng ngày sau nó sẽ nối nghiệp mình và để khi chết còn có người nhang khói.
Giải phóng miền nam
Những doanh nhân lớn tìm đủ cách trốn đi nước ngoài, riêng ông Tửng lưỡng lự không biết có nên đi hay không?, vì ở đâu ông cũng không có ai là người thân thuộc. Cuối cùng, ông chọn cho mình cái cách ở lại bằng phương pháp hiến một phần tài sản lớn cho nhà nước với hy vọng lập chút công, sống yên ổn nốt quãng đời còn lại, nhưng như vậy cũng chưa phải là yên. Khi cần tiền ủng hộ,người ta mời ông. Chửi Trung cộng, người ta lại lôi ông ra…cuối cùng ,ông Tửng đề nghị chính quyền sở tại đổi ngôi biệt thự   cha con ông đang ở, làm trụ sở cơ quan. Bù lại, ông sẽ nhận lấy hai căn nhà mặt tiền trên con đường nhỏ. Ủy ban thị xã đã mời ông lên để biểu dương và nói lời cảm ơn.
Đó là hai căn nhà hai tầng ở cạnh nhau mà người chủ cũ của nó vốn là một sỹ quan ngụy đã trốn ra nước ngoài. Trông  có hơi cũ kỹ nhưng còn có thể ở đó mà buôn bán kiếm đồng vô đồng ra chứ ở chi toà biệt thự to lớn mà chỉ thấy toàn hao tài tốn của. Ông Tửng chẳng còn gì ngoài hai căn nhà ấy và một ít vốn đủ hùn với vài người quen có kinh nghiệm, mở một quán phở và một quán cà phê bên cạnh nhau
0o0
Một hôm ông Tửng mừng vui bảo tôi
-Nị ể nhà mạnh giỏi a, ngộ li dè xứ thăm mồ mả cái thằng ông già của ngộ.
Nhìn ông lão gầy gò trên dưới bảy mươi tuổi cười móm mém tôi ái ngại :
-Ngoài ấy nghe nói mùa này lạnh lắm, ông đã già, đường thì xa, liệu có vất vả lắm không?
Ông vỗ vai tôi:
-Dắt dả cũng li, nhớ quê quá dồi, pây giề không li thì không piết pao giề mới li lược, ngộ dà dồi !
Ông nói mà mặt buồn rười rượi. Tôi nhìn ông thương cảm. Cũng phải thôi, xa quê hương  gần  nửa thế kỷ mà không làm sao có thể về thăm được cho dù tiền bạc có thừa.
Con hổ sắp chết còn quay đầu về núi, con voi cũng biết tìm về nấm mộ chung mà rũ xương tàn, huống chi tiềm ẩn ở mỗi con người vẫn là tình cảm.Ý nghĩ tìm về nơi chôn nhau cắt rốn không phải chỉ có ở riêng ai, luôn là nỗi niềm đau đáu của người biệt xứ. Tôi chúc ông đi thượng lộ bình an.
0o0
Tôi quen ông Tửng được gần ba năm, kể từ ngày thuê được mái hiên căn nhà đối diện với quán cà phê của ông để đặt tủ đồ nghề sửa chìa khoá ở đó. Vợ tôi sáng sáng ngồi bán một thau xôi to tướng ở cạnh bên. Thu nhập của cả hai vợ chồng cũng có dư chút đỉnh vì cả hai đều biết liệu cơm gắp mắm. Cuộc sống tuy đạm bạc nhưng yên ấm hạnh phúc.
Mỗi sáng tôi thường bước sang quán ông, uống một ly cà phê đen. Có khi ngồi nói chuyện với ông cả buổi . Ông rất thích tôi, vì thấy hai vợ chồng tuy nghèo nhưng chịu khó chăm chỉ làm ăn. Ở ông, người ta không tìm ra được thái độ khinh khỉnh thường thấy ở những người giàu có hay đã từng trở nên giàu có. Ông chưa bao giờ kể cho tôi nghe về đoạn đời sung sướng thời cực thịnh mà chỉ nói về những gian khổ mà ông đã trải qua. Còn tôi khâm phục ông ở tấm lòng nhân hậu khi nghe nhiều người khác kể về ông. Có điều mỗi khi nhắc đến ông, người ta thường chép miệng: ”Ông già bạc phước.”
Mà cũng bạc phước thật! Làm thân gà trống nuôi “vịt” gần hai mươi năm, lúc nào ông cũng mong cho con được học hành đến nơi đến chốn để sau này hoàn cảnh có đổi thay tự nó cũng có thể một mình đứng vững. Thế mà mới học xong lớp bảy, nó đã nghỉ học. Ông la rầy, nó nói: “Ba có biết đọc chữ đâu, cũng đâu có thua ai?”. Ông đánh nó, nó  lại ôm hình của má nó trên bàn thờ mà khóc, làm ông mủi lòng. Thôi cũng không nên ép khi lòng nó không muốn. Có điều nó còn quá nhỏ…
Ông bèn rước thầy về nhà dạy nó với hy vọng học được chút nào hay chút nấy. Chưa đầy ba bữa, thầy giáo đã vừa xá vừa chạy dài vì cái tính khí ngang ngạnh của nó. Thêm một vài thầy khác nữa, tình hình cũng không khá hơn.Ông đành chịu thua.Xưa nay ông vẫn quen cưng chìu nó, muốn gì được nấy. Nó mồ côi  mà…
Hai mươi tuổi nó đòi cưới vợ. Đám cưới xong, ông giao luôn cái quán phở cho vợ chồng nó cai quản mà nuôi sống nhau. Phần ông sống bằng lợi tức của quán cà phê cho thuê ở tầng trệt.
0o0
Sau hai tháng đi Trung Quốc, ông Tửng trở về với gương mặt hớn hở. Nhưng chỉ vài ngày sau người ta thấy gương mặt ông héo như tàu lá cháy. Quán phở đóng cửa nghỉ trước, tiệm cà phê sau đó cũng dẹp luôn. Có hôm người ta còn nghe cả tiếng gây gổ và tiếng chén bát va đập vào tường. Không ai biết nhà ông Tửng đang xảy ra chuyện gì. Đã mấy ngày nay tôi không gặp ông. Qua người giúp việc, người ta biết ông định bán nhà.
                                                     0o0
Chuyện bắt đầu từ cái hôm ông Tửng vô tình  ngồi uống cà phê gần bàn một ông khách thương buôn.
Xui khiến làm chi để họ nhận ra nhau là đồng hương để rồi mới có cái quyết định về thăm quê sau mấy mươi năm mịt mờ tăm cá. Qua những lần chuyện trò thăm hỏi. ông Tửng mừng đến nghẹn ngào khi nhận ra người khách buôn ấy là người cùng quê nơi ông sinh ra lớn lên.
Họ đi đến một thoả thuận; người khách buôn sẽ hướng dẫn ông về Trung Quốc sau khi đã thu gom đủ số hàng hoá cho một chuyến trở về. Chi phí xe tàu dọc đường ông Tửng lo tất. Cứ coi như là ông đi du lịch có ngưới hướng dẫn vậy. Thế là sau một tuần chuẩn bị, họ lên đường. Đó là giữa năm 1992, những cuộc buôn bán qua lại giữa biên giới hai nước đã có mòi dễ dãi. Những chuyến tàu Bắc-Nam chờ hàng hoá Trung Quốc vào tận TP.Hồ Chí Minh xuôi về các tỉnh miền tây, lên xuống  nhận hàng như cơm bữa
Người khách cũng thuộc loại người có máu phiêu lưu, thích mua tận gốc bán tận ngọn. Những chuyến hàng của ông có khi kéo dài hàng tháng trời.
Quyết định của ông làm vợ chồng đứa con cảm thấy kỳ lạ. Chúng tỏ ra ái ngại vì tuổi tác và sức khoẻ của ông không thích hợp cho một chuyến đi xa như thế, nhưng vì thấy ông già hăng quá nên chúng không nỡ làm ông cụ mất hứng, đành phải chìu lòng, vì biết có cản cũng vô ích. Chúng biết tính ông khi đã quyết định chuyện gì thì khó lòng cản trở, đành cùng nhau sắp xếp hành lý cho ông. Chúng lo cho ông từng tí.
Vậy mà sau hai tháng đi xa trở về, nỗi mừng vui chưa kịp tan thì ông lại quyết định bán nhà đem tiền cho cái đám anh em chưa bao giờ biết mặt. Dĩ nhiên chúng phản đối kịch liệt để rồi cuối cùng cũng đành phải cúi đầu vì…tất cả mọi thứ giấy tờ chủ quyền đều do ông nắm giữ. Chọc giận có khi ổng bán luôn hai căn cũng chưa biết chừng. Thôi, tới đâu tính tới đó, giành được cái nào hay cái nấy.
0o0
Đêm đầy sao.
Những cơn gió lạnh mang ký ức xa xưa thông thốc thổi về. Ông Tửng hớp lấy hớp để  tách trà và khẽ rùng mình. Ánh sao bắc đẩu nhấp nháy trên bầu trời thăm thẳm mênh mông. Những mắt sao như nhìn  xuyên qua vũ trụ vô cùng tận, thấu suốt lẽ huyền vi của tạo hoá, bình thản nhìn về địa cầu như ta nhìn vào đàn kiến nhung nhúc đang đấu tranh sinh tồn. Ông thấy mình giống như một con kiến nhỏ bé, và hình dung cả nhân loại này chỉ là đàn kiến dưới mắt những vì sao đêm đang dõi theo một mô hình sống đang được nuôi cấy như một thứ vi khẩn trong phòng thí nghiệm, rồi đến lúc nào đó tự thân nó bị huỷ diệt để trở về với tĩnh lặng như hàng triệu tinh cầu khác.
Cơ thể ông rã rời. Nỗi buồn cứ đeo bám không rứt ra được. Ông không ngờ đến cuối đời nó lại đối xử với ông như vậy. Nếu mẹ nó còn sống không biết bà ấy sẽ giải quyết ra sao chuyện này.
Ông Tửng ngửa mặt thở dài, cố bình tâm quên cơn giận của những ngày qua, thử đặt mình vào hoàn cảnh nó. Ông thấy chùng xuống lòng mình một nỗi buồn quằn quặn.
Ừ! Thì từ lúc nhỏ đã biết kiếm và gìn giữ đồng tiền nên giá trị tiền bạc với nó quí như máu. Cũng giống như ông thời trẻ khi đã dấn thân đi tha phương cầu thực, theo miếng ăn trôi dạt vào đây để bám rễ vào những của cải kiếm được, ôm từng gốc cây cục đất do mình tạo ra mà quên cả đưởng về. Mồ côi mẹ từ nhỏ nên tự đôi tay đã biết quơ quào tích luỹ, hỏi làm sao nó có thể nhìn tài sản đội nón ra đi theo cái đám anh em cha căng chú kiết chưa một lần nghe ai nhắc nhở? Vả lại bề họ cũng đã yên rồi, đâu cần ông Tửng phải làm vậy?
Ông không ngờ phản ứng của con lại dữ dội đến thế. Lòng ông đã quyết không ai có thể cản được, nhưng hành động quyết liệt đến độ vô lễ ấy đã làm ông quá đau lòng.         Cái tay luật sư hôm ấy nói gì nhỉ? Nếu ông Tửng chia chác không thoả đáng, tôi sẽ giúp thân chủ ra toà chia chác. Ra toà? Chuyện trong nhà mà phải mang ra toà sao? Ai nuôi nấng nó lớn dường ấy để rồi nó mướn luật sư chống lại ông?
            Một cơn gió lạnh ùa về phía trước làm ông Tửng rùng mình ớn lạnh. Cái lạnh chạy dài theo sống lưng làm ông phát run. Đưa tay nâng  một trong hai chiếc áo len tròng vào người, ông cảm thấy sự ấm áp lan toả như vòng tay của bà đang ấp ủ. Ôm chiếc áo còn lại vào long, ông như nhận ra cả mùi mồ hôi của người vợ đã tảo tần nuôi con khôn lớn trong thời loạn lạc. Bất giác ông đưa chiếc áo lên hít lấy hít để  như muốn tìm lại hơi hướm  người vợ trẻ ngày xưa. Hai chiếc áo len mà bà đã cố gắng đan cho thật nhanh trong những ngày ông trở về thăm lại quê hương để làm quà gửi về cho ” vợ chồng đứa con ở Việt Nam” -Theo cách nói của bà, nó đã vứt trả lại ông mấy ngày nay.
            Chiếc đồng hồ dưới nhà điểm ba tiếng. Đã ba giờ sáng. Ngày xưa vào giờ này vợ ông đã thức dậy nấu cám và làm những việc vặt, lụi hụi dưới bếp một cách nhẹ nhàng để ông khỏi mất giấc ngủ, những việc mà ban ngày thị không làm được vì bận giữ con nhỏ không được rảnh tay. Ngay từ thuở ấy bà đã giỏi giang như thế mà cho đến bây giờ ông mới nhận ra. Bà cực nhọc cả đời. Còn ông? Ông đã làm gì cho bà và các con để có được sự trọng thị như bây giờ? Chỉ vì vài lời nói suông mà người phụ nữ ấy đã phải hy sinh lam lũ cả đời cho một dòng tộc hay nói đúng hơn là một người không ra gì như ông.
Ôi! Những lời lẽ trong cơn xúc động buổi chia ly ấy, đã trói chặt cả đời người. Bà đã vì ông mà quần quật không nghỉ ngơi, quyết chí nuôi con ăn học thành tài. Có nằm mơ cả trăm lần ông cũng không thể tưởng tượng được con mình có bằng cấp kỹ sư, tiến sỹ.  
Trời ơi, chỉ với đôi tay nhỏ bé bà đã ôm vào lòng một ý chí phi thường, nuôi các con  học hành đến nhường ấy, làm rạng rỡ tông môn nhà ông đến nhường ấy, thử hỏi quì trước mặt bà cũng có đáng gì?
            Hôm ấy ông đã làm như thế thật.
            Khi chuẩn bị trở về Việt Nam, ông đã trịnh trọng thắp nén nhang trên bàn thờ Cửu Huyền, rồi trước mặt đông đủ con cháu, ông quay sang nhìn bà đang đứng bên cạnh. Ông nhìn thật chăm chú như muốn ghi rõ hình ảnh bà trước lúc chia tay. Bà ngước nhìn ông chờ đợi một lời răn bảo, hốt hoảng khi thấy ông quỳ thụp dưới chân mình, hai tay chống đất, đầu cúi thấp. Bà oà khóc, khuỵ xuống ôm chầm lấy ông sợ hãi. Suốt một thời trai trẻ, họ chỉ lạy nhau khi làm lễ phu  thê giao bái  trong buổi thành hôn…Còn bây giờ thì ông đang lạy bà…Con cháu vội vàng xúm lại dìu đỡ hai người đứng dậy. Nước mắt ông chạy dài trên hai gò má, tất cả như chết lặng, không gian như ngừng thở, chỉ cón tiếng khóc sụt sịt của mọi người-tất cả đều khóc. Họ khóc trong hạnh phúc tràn ngập.
            Hôm ấy hai vợ chồng già dìu nhau lên ngọn đồi có cây đa, nơi đã chôn lá nhau cả năm đời nhà ông và phần đông dân làng ở đây. Cảnh vật không khác xưa là mấy, cây đa dù có thêm trên mình những vết sẹo lớn do đạn pháo nhưng vẫn sừng sững vươn cao những nhánh non tơ, xem ra vẫn chưa hề suy suyển trước bao thăng trầm của xã hội, chiến tranh, chế độ…Mọi thay đổi dường như chỉ diễn ra ở tận đâu đâu. Chính giờ khắc đó ông bỗng thấy đời người không hơn kiếp phù du.
            Ông hỏi bà làm sao mà nuôi con ăn học được như thế. Bà ngồi xuống cạnh ông rồi tỉ tê kể lại…
            Vài tháng sau khi ông ra đi, một người bạn cùng đi với ông lúc trở về báo tin rằng ông bị cướp giết chết trong rừng. Bà đau đớn vật vã suốt cả tuần, nhưng rồi còn phải nuôi con. Chúng nó còn thơ dại chưa biết nỗi mất mát quá lớn ập xuống đầu. Nhìn hai đứa con hồn nhiên đùa nghịch trên giường, bà bỗng nhớ lại từng lời nói của ông trước lúc chia tay, cảm thấy trách nhiệm đè nặng lên vai mình. Làm thế nào để nuôi dạy các con theo đúng như lời dặn của ông đây? Nhà nghèo quá lấy đâu ra tiền bạc nuôi con ăn học? Nghe người ta nói chế độ Cộng Sản là của người vô sản. Bà không cần biết thế nào là chuyên chính, thế nào là ưu việt, chỉ biết là nếu sống được nơi đó, con  bà có thể được học hành mà không tốn tiền. Thế là bà chuẩn bị cơm đùm cơm nắm, dắt hai con ngược lên mạn bắc, tìm về hướng Diên An, nơi có căn cứ địa cách mạng…
            Trước khi đi bà thắp hương trước mộ cha mẹ chồng, hứa chỉ quay trở lại khi  đã làm tròn ước nguyện của chồng mình. Không thực hiện được điều đó, bà thề thà bỏ xác nơi xứ người…
Dắt hai con đi chưa được bao lâu thì quê nhà xảy ra binh biến.
Hai năm sau, bà trở thành chiến sĩ thi đua trong một đội sản xuất chỉ toàn là nữ. Hai đứa con đã có nhà trẻ của đội chăm sóc. Chúng được học hành còn bà rảnh tay lao động. Tối hai con lại về ngủ với bà. Cuộc sống  nhẹ lo hơn hồi còn ở dưới quê. Bà an tâm khi thấy con mình ngoan ngoãn, chăm học, mạnh khoẻ và mau lớn như trái bầu trái bí. Cho đến cuối đời bà vẫn đoan chắc rằng vong hồn ông lúc nào cũng ở bên cạnh. Mỗi khi nhìn ánh mắt ông trên bàn thờ, bà thấy mình như được sưởi ấm. Tấm hình duy nhất chụp chung trong ngày cưới được bà phóng to. Gương mặt của ông trông thật hiền lành và cương nghị. Mỗi khi muốn dạy dỗ con điều gì, bà thường bắt đầu bằng câu:”Ngày xưa cha các con có dặn mẹ rằng…” điều gì tốt đẹp nhất bà đều gán hết cho ông. Ông như tấm gương sáng để các con noi theo mà sống cho đúng đạo nghĩa với mọi người xung quanh.
Mỗi năm, bà vui sướng trân trọng đặt lên bàn thờ ông những phần thưởng mà nhà trường  trao tặng  cho hai đứa con . Chúng học rất giỏi.
Ba mươi tuổi, thằng Đại bảo vệ thành công luận án tiến sĩ. Thằng Thứ đã là kỹ sư nông học. Bà bàn với hai con trở về quê để hương khói ông bà luôn, chứ mỗi năm về cúng một lần, nhang tàn khói lạnh, bà thấy có lỗi với tổ tiên
            Đại không đi được vì trên đã bổ nhiệm làm trưởng khoa một trường đại học lớn ở Vân Nam. Chỉ có Thứ được phân công đúng nguyện vọng về được nơi quê nhà với chức vụ phó ban nông nghiệp. Riêng bà được cấp Huân chương “Vì sự nghiệp cách mạng” và được cho lại nền nhà trên mảnh đất cũ từ lâu đã bị trưng dụng.
Ngôi nhà xưa được tái hiện dù chất liệu có khác hơn, nhưng vẫn còn phảng phất dáng dấp cổ kính của quá khứ. Chính nhờ vậy mà ông Tửng nhận ra ngay khi đặt bước vào sân nhà mình.
            Nhớ lại giây phút đó, ông Tửng vẫn còn hồi hộp.
Điều ông nhận ra ngay đầu tiên khi về đến làng là cây đa cổ thụ vẫn còn sừng sững trên đồi cao. Ông đứng lặng người nhìn lên. Nước mắt tự nhiên ứa ra rồi lăn dài xuống. Trong lòng ông có gì nao nao dâng thật khó tả.
Bàng hoàng như sét đánh, khi ông biết vợ và các con mình vẫn còn sống qua lời những người láng giềng. Người ta nói bà ở vậy không chịu thêm bước nữa, dù có nhiều người đã ngỏ lời và con bà cũng đồng ý. Ông tưởng mình đã nghe lầm khi biết hai con đều thành đạt, có địa vị trong xã hội.
Bước vào sân nhà trong trạng thái kẻ mộng du, ông Tửng ngẩn ngơ nhìn từng gốc cây, chậu kiểng.Từ cánh cửa mở rộng, ông nhìn sâu vào trong, bần thần khi thấy chiếc bàn thờ đặt giữa nhà có hình ông trên đó.
Một cô bé khoảng độ mười lăm mười sáu tuổi, đang ngồi vắt vẻo trên cây mận bên hông nhà vội vã leo xuống khoanh tay chào ông rồi ra sau gọi bà. Sau này ông mới biết nó là cháu nội của mình - con của thằng Thứ.
Ông Tửng bước vào nhà mà tim như muốn vỡ tung. Ông muốn chạy theo con bé ra tận nhà sau để được gặp bà ngay nhưng cố kềm chế. Ông nghe rõ từng bước chân chậm rãi rõ dần…rõ dần…. Bà hiện ra, bình thản nhìn ông cúi chào. Trong tai ông nghe loáng thoáng một câu gì đó nhưng ông không để ý. Ông cố nhìn bà mà sao hình ảnh cứ nhoè đi. Sao dạo này ông hay khóc thế không biết?  Động một tí là nước mắt ứa ra. Ôi, bà vẫn còn phảng phất nét quen thuộc của ngày xưa cho dù mái tóc đã như sương như khói. Ông chết lặng khi nhận ra bà vẫn còn đeo đôi bông tai búp mù u bằng bạc mà ngày còn chung sống với nhau ông đã mua tặng bà.
            Ngày ấy  nhà nghèo, thấy vợ cực khổ, nhân một chuyến đi chợ thay vì mua thêm vài món gia dụng trong nhà, ông lại mua đôi bông tai. Bà cằn nhằn ông phung phí nhưng trong ánh mắt lại lấp lánh niềm vui. Đôi bông tai bằng bạc không đáng giá bao nhiêu, vậy mà bà vẫn đeo nó cho đến bây giờ.
            -Xin lỗi ông tìm ai?
Ông vẫn đứng lặng im.
Cô cháu gái nép vào bên cạnh ôm một bên cánh tay của bà, ngỡ ngàng nhìn giọt nước mắt của ông khách  lăn dài.
Bà cũng cảm thấy kỳ lạ trước thái độ kỳ quặc của ông khách xa lạ. Định hỏi thêm một lần nữa thì từ ông khách, một giọng nói nghèn nghẹn, khàn khàn, đứt đoạn thốt ra:
-Má thằng Đại… Bà… Bà… Không nhận… ra tôi… hay sao?
Bà lão đột nhiên thấy sống lưng lạnh toát, chân tay mềm nhũn, chỉ thốt lên được mấy câu:
-Ông… Ông… là… Ba… Ba…
Rồi  ngã vật ra ngất đi.
Đại đáp máy bay về nhà mẹ ngay tối đêm đó khi nhận được cú điện thoại với nội dung: ”Ba còn sống, về gấp” mà Thứ đã gọi cho anh bằng một giọng run rẩy trong ống nghe.
Những ngày sau đó khỏi phải nói họ vui biết nhường nào. Những lời chúc mừng của hàng xóm, sự lăng xăng chăm sóc của mấy đứa cháu nội với mẹ của chúng- Hai nàng dâu hiền lành xinh như mộng, những bữa cơm ăn mừng sum họp con cháu vây quanh gắp thức ăn cho ông đầy vun cả chén. Thưa cha uống trà, thưa nội dùng cơm…Ôi, ông là trứng mỏng, cứ như chỉ cần một cử chỉ , một lời nói vô ý làm ông phật lòng có thể làm ông vỡ tan ra vậy. Ông như đắm chìm trong niềm hạnh phúc sung sướng tuột cùng.
Ngước lên cây đa, ông hỏi bà:
-Cuống rốn và nhau của mấy cháu bà có chôn ở quanh đây?
Bà gật đầu chỉ về một hướng:
            -Thằng Đại nó chôn rốn con nó ở đây, thằng Thứ bên cạnh đó.
            Ông cầm tay bà lên:
-Bà này
-Dạ
-Giờ mà còn dạ nỗi gì?
Bà cười bẽn lẽn:
-Ông muốn nói gì thì nói đi.
Ông hóm hỉnh:
-Từ hôm về đến nay tôi với bà chưa động phòng
            Bà đấm mạnh vào lưng ông cười:
-Quỷ cái ông này, có cho vàng ông cũng …động không nổi
-Thế thì “động” ngay ở đây nhé!
Bà sợ hãi:
Chết!không được nói đùa ở đây, thần thánh quở chết đấy!
            Ông giật mình im lặng. Một lát sau ông nói:
-Tôi sẽ tranh thủ về đây sớm ngày nào hay ngày ấy.
Hôm ấy ông đã hứa với bà sẽ trở qua  trong một ngày không  xa  để cùng bà sống nốt quãng đời còn lại. Ông còn nói nguyện ước cuối cùng là được chết nơi chôn nhau cắt rốn, được gần gũi mồ mả tổ tiên và được nằm cạnh bà. Bà đã cảm động ứa nước mắt khi ông cầm tay bà nâng lên áp vào má ông thật lâu, cử chỉ âu yếm mà ngày xưa chỉ những lúc ông xúc động mãnh liệt mới có được. Năm mươi năm bà mới có cảm giác bồi hồi như ngày nào còn ở cạnh ông. Cử chỉ ấy thay vạn lời nói. Ông bảo rằng lâu lắm là khoảng độ ba bốn tháng sẽ trở về bên cạnh bà vĩnh viễn. Còn giờ ông phải trở qua Việt Nam để thu xếp chuyện nhà …Bà ngước nhìn ông tin tưởng.
Chưa bao giờ ông hé lộ quyết định của mình cho bà biết. Ông muốn ngày trở về với bà, sẽ là một bất ngờ với mớ tài sản chắt chiu cả đời, mang về đây chia sẻ các con để chúng phát huy cơ nghiệp. Ý định bán bớt một căn nhà cứ bám riết ông trên đường về. Cho đến hôm nay gần như đã thực hiện xong. Nhưng bên cạnh  là một mất mát lớn, đó chính là tình cảm của đứa con Việt,giờ đã không còn coi ông là cha nó nữa.
0o0
Một cơn gió mang hơi lạnh từ phương Bắc tràn qua người, quợn thêm chút hương lài từ bên sông đưa sang làm ông Tửng cồn lên nỗi nhớ miên man. Ông tròng thêm chiếc áo len còn lại vào người như kiếm tìm hơi ấm của người vợ tấm mẳn năm xưa mà cõi lòng tan nát, nước mắt lưng tròng. Ông thương bà biết nhường nào, nhưng liệu có ích gì khi lòng còn chút lưỡng lự. Không ngờ người như mình lại có kẻ xem như thần thánh. Một lời nói ra là khuôn vàng thước ngọc. Niềm xấu hổ chạy dài theo sống lưng bất giác làm ông ôm lấy đôi vai rùng mình. Đôi vai chưa một lần chung gánh san sẻ những nặng nhọc trên cuộc đời người vợ tảo tần. Ông đã chạy trốn trách nhiệm một cách hèn nhát. Hào quang từ căn nhà ấm áp ấy ông đâu xứng đáng được hưởng, vậy mà nó hoàn toàn thuộc về ông, từ ông toả ra tựa ánh sáng của đấng Như lai toàn năng.
Cả tháng nay niềm tủi hổ luôn dày vò không lúc nào nguôi ngoai. Ông nhớ đứa cháu nội  bụ bẩm luôn theo ông bập bẹ bằng tiếng quê hương mà ông nghe càng thêm xót xa hổ thẹn. Thằng bé thật dễ thương, chỉ  mới mấy ngày mà ông với nó mến nhau kỳ lạ, tưởng không thể nào rời xa được nữa. Sợi dây thiêng liêng vô hình kết chặt từ  thẳm sâu huyết quản khiến vừa gặp đã mến ngay. Nó hôn ông bên má thật ngọt ngào khiến ông rộn lên niềm hạnh phúc ngập tràn.
Ông đã quyết định rồi, cho dù có bán được bao nhiêu đi nữa, ông vẫn phải bán một căn nhà, chừa nó lại một căn. Có như vậy hoạ hoằn lương tâm mới được yên ổn phần nào.
Chuông đồng hồ dưới nhà vọng lên bốn tiếng. Ông Tửng đột nhiên rùng mình ớn lạnh. Cơn ho nổi lên bất chợt làm ngực ông đau nhói. Ông Tửng bỗng nhiên thấy bầu trời chao đảo, những vì sao như chùm pháo bông đột nhiên vụt sáng lên rồi tắt ngấm. Ông thiếp đi.
Sáng sớm, người giúp việc tìm thấy ông trên sân thượng khi tay chân đã lạnh cóng, hơi thở còn yếu ớt, vội la toáng lên, cùng mọi người khiêng ông xuống nhà .
Bác sĩ nói ông bị cảm lạnh, cố gắng nghỉ ngơi uống thuốc vài ngày sẽ khoẻ lại.
Mỗi sáng sang thăm ông, tôi có cảm giác sức khoẻ của ông ngày càng suy sụp, dù ông vẫn còn nằm nói chuyện với tôi rất tỉnh táo. Những ngày ấy tôi để ý có nhiều người lạ cũng đến thăm và cùng ông bàn bạc chuyện gì đó mà vì lịch sự, tôi thường rút lui trước khi họ ngồi xuống chuyện trò.
Một hôm ông Tửng cho người mời tôi sang. Khi bước vào phòng, tôi hơi ngỡ ngàng  khi thấy vợ chồng thằng con cũng đang ở đó với một người đàn ông lạ. Tôi kéo ghế lại sát chiếc giường ông nằm, ngồi xuống cạnh mọi người chờ đợi. Mặt ông trắng bợt, hơi thở yếu ớt, chắc là không qua khỏi…
Thì ra ông muốn tôi là nhân chứng cho tờ di chúc. Người đàn ông lạ kia chính là luật sư mà ông bảo thằng con mời đến.
Trong di chúc đại khái nói rằng ông đồng ý bán một căn nhà cho ông B…với giá  một trăm hai mươi lượng vàng. Cho vợ chồng con ông là…hai mươi lượng làm vốn và một căn nhà còn lại, với điều kiện con ông phải có trách nhiệm mang hài cốt của ông về Trung Quốc giao cho vợ lớn của ông là bà…cùng với một trăm lượng vàng.
Ông cũng cho tôi  một số tiền kha khá để làm vốn.
Hai ngày sau, ông chết
Chết mà không nhắm mắt.Dù mọi người đã làm đủ cách mà mắt ông vẫn mở trừng trừng. Có lẽ ông còn giận thằng con riêng của vợ, hay là vì lời hứa trở về quê hương không bao giờ còn có thể thực hiện được. Ngày xưa khi ra đi ông cũng hứa với bà là sẽ quay về . Cho đến cuối đời ông lại hứa với bà thêm một lần nữa. Cả hai lần ông đều thất tín.
Sau khi hoả táng cho ông xong, con trai ông mời tôi sang nhà bàn chuyện. Hắn rót rượu mời tôi một cách kính cẩn , dù tuổi đời tôi hơn hắn chưa đầy nửa con giáp. Bàn nhậu chỉ có tôi và hắn. Chúng tôi vừa ăn nhậu, vừa nhắc đến ông với lòng kính trọng vô biên. Nào là trên đời này khó có thề kiếm được người nào thương vợ và con của vợ như ông. Nào là hiếm có người giỏi giang, thương người, hiền lành, nhân hậu như ông. Nào là…Tóm lại, nhân lễ trí tín ông đều hơn người…
Cứ thế, tôi với hắn vừa nhậu vừa liệt kê và phóng đại những đức tín vừa có vừa không  của ông cho đến lúc cả hai đều cườm cườm say.
Hắn kéo ghế ngồi gần, choàng tay qua vai tôi rồi nói rằng hắn có một sáng kiến có thể làm cho tôi thoát khỏi sự nghèo khó. Tôi hỏi sáng kiến đó là gì? Hắn ngồi ngay ngắn lại và nói thì thầm vào tai tôi như những lời tâm sự:
            -Tôi đã hứa với ba tôi rằng sẽ mang hài cốt của ông về quê trong một ngày gần nhất, nhưng lúc này công việc ngập đầu không thể đi ngay được. Tôi định trước sau gì rồi cũng thực hiện ý muốn của ông già, nhưng lúc này, tôi cần một số vốn lớn để làm ăn.
Anh hãy giúp tôi giữ yên lặng cho đến khi nào tôi thành công phi vụ này. Kiếm được nhiều tiền tôi sẽ cho anh thêm, giờ thì anh hãy tạm cầm lấy hai cây vàng cùng với số tiền mà ba tôi đã hứa cho anh mà về làm  vốn.
Hắn nói xong móc trong túi quần một gói nhỏ đưa tôi.Tôi mở ra và choáng người. Vàng. Cả một đời  tôi chưa cầm một phân vàng, nói chi đến hai cây, mà lại là “cầm tạm” nữa chứ! Có nghĩa là những lần “cầm” sau sẽ nhiều hơn. Chỉ mua sự im lặng thôi mà! Đâu có phải là giết người, cướp của hay trộm cắp, hiếp dâm? Với hai cây vàng này so với người khác, có lẽ không nhằm nhò gì nhưng với tôi nó có thề giúp tôi thực hiện những ước mơ từ lâu ấp ủ. So với thau xôi và cái tủ đồ nghề sửa chìa khoá thổ tả của tôi thì hai cây quả là gia tài . Vả lại hắn chỉ mượn tạm vốn của ông già hắn chứ phải ăn cắp của ai đâu? Xong rồi hắn sẽ trả kia mà!
Lòng tôi rộn rã nhưng còn thấp thỏm:
-Còn luật sư thì sao?
Hắn cười vỗ vỗ vào lưng tôi:
-Yên chí đi , tôi đã lo cho hắn xong rồi. Hắn cũng sẽ câm miệng.
Hắn dùng từ ”câm miệng” một cách trịch thượng nhưng tôi không thấy giận, vì tôi đang cầm chặt trong tay hai cây vàng.
Hai tháng sau, vợ chồng hắn bán nốt căn nhà còn lại rồi biến đi đâu biệt tăm. Bán một cách âm thầm không ai hay biết. Cứ như là hắn thuê người khác bán phở dùm hắn vậy….Còn hắn đã đi biệt dạng cả tuần không ai để ý. Mãi đến khi người chủ mới dọn đến ở , người ta mới biết hắn bán nhà đã được hơn tháng. Hủ tro hài cốt của ông Tửng nghe nói hắn gửi cho một ngôi chùa gần đó.
Tôi vẫn không lấy đó làm buồn vì dẫu sao mình còn lời chán
Bốn tháng sau, tôi tình cờ nghe trên đài Tiếng Nói Việt Nam một tin nhắn nghe sởn da gà:
- “Con là Lý Quốc Đại, nhắn tin cha là Lý A Tửng, trước ở làng…huyện….thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, sang Việt Nam năm….Hiện đang cư ngụ tại tỉnh L…Mẹ đang đau nặng mong được gặp cha, vậy cha đang ở đâu hãy điện thoại về số…Con hiện đang ở khách sạn P…Ai biết cha tôi đang ở đâu, hãy liên lạc địa chỉ trên, xin hậu tạ.”
Liên tiếp ba ngày, ngày nào tôi cũng nghe tin nhắn trên, đến độ thuộc lòng. Cuối cùng chịu không nổi tôi bèn tìm đến địa chỉ trong tin nhắn để tìm gặp con ông. Tiếp tôi là một người đàn ông có khuôn mặt hao hao giống ông Tửng, trạc năm mươi tuổi, và một thanh niên nhỏ con trắng trẻo. Sau khi bắt tay người đàn ông, tôi nói luôn rằng hiện tôi biết ông Tửng đang ở đâu, rồi kể hết những gì mà tôi biết (trừ cái việc tôi đã nhận hai cây vàng). Tôi phải nói một cách chậm rãi để anh bạn trẻ dịch từ từ. Người đàn ông rớt phịch xuống ghế, rũ xuống, mặt xanh tái, nói những câu gì đó bằng tiếng Trung Quốc với người trẻ. Người thanh niên nói lại với tôi:
-Ông ấy nói tiền bán nhà gì gì đó, không quan trọng và cũng không cần gặp cái thằng đó, ông ta chỉ muốn biết hài cốt của cha ông hiện đang ở đâu để ổng mang về Trung Quốc cho kịp vì mẹ ông đang bệnh nặng.
Tôi cùng họ lên xe đi đến ngôi chùa . Ông Từng quả nhiên được thằng con cho vào đây kề cận với vài chục cái hủ sành khác. Mỗi hủ hài cốt đều kèm theo một tấm ảnh và bài vị, nhờ thế tôi dễ dàng nhận ra. Sau khi làm đúng thủ tục nhận lại hài cốt, ông Đại hậu tạ tôi một phong bì dày cộm nhưng tôi không dám nhận. Mấy ngày qua tôi đã xấu mình lắm rồi, giờ lại gặp thêm ánh mắt của ông Tửng đang nhìn tôi như trách móc bên cạnh hủ hài cốt, lòng dạ nào còn dám đứng đây mà nhận hậu với tạ. Nói dối rằng phải ra sau chùa có chút việc, tôi biến.
Thấm thoát thế mà đã mười năm. Ôi! Mỗi thập niên trong đời người như mỗi chặn đường. Mỗi thập niên là một ngã rẽ của cuộc đời. Đi lên hay xuống có khi phụ thuộc vào bản chất của từng con người. Mười năm ngoái nhìn lại mình một lần, có khi cũng rút ra được một vài bài học cho cả phần đời còn lại. Tiền bạc đến bất ngờ dễ đẩy ta xống vực nhanh hơn. Nếu như ngày xưa tôi không có hai cây vàng ấy thì vợ tôi sẽ không đứng ra làm chủ hụi, không trở thành con người nanh nọc và cũng không bị giật nợ đến độ phải nợ lại nhiều người, đến phải bỏ trốn…Nếu như ngày ấy vợ tôi cứ bán xôi, còn tôi cứ làm anh thợ sửa chìa khoá mà vợ chồng tôi vẫn vui vẻ sum vầy đầm ấm, có đâu như ngày nay chồng một nơi, vợ một nẻo, cả năm chỉ gặp một vài lần.
Còn hắn?
Hắn hình như cũng không khá gì hơn. Với cái cách sum xoe của hắn đối với khách nhậu bình dân đủ thấy số phận hắn không khác  khi xưa là mấy. Chỉ khác là mười năm trước hắn bán phở bò còn bây giờ hắn bán  những món nướng, ngày xưa hắn ở Long Xuyên còn giờ đây hắn ở Đà Lạt. Tôi và hắn đều là những thằng khốn nạn xấu xa. Đã biết rõ về nhau thì gặp nhau làm gì. Hắn thì tôi chưa biết như thế nào, riêng số phận tôi, tôi biết rất rõ, đó chính là quả báo mà tôi đã gây ra. Tôi phải lấy hành vi bỉ ổi mà mình đã phạm phải, đặt tên cho truyện ngắn này để tự nhắc rằng không được sai phạm thêm lần nữa.
 Còn hắn? Tôi không muốn thấy mặt hắn.
 Mãi mãi cho tới chết.


http://kinhdotruyen.com/tac-gia-duong-huy-hoang.html